Những lập luận một cách “khoa học” của Đông La.
Phương Duy
Thường thừơng, , tôi chỉ lướt qua Talawas như người thưởng nguyệt xem hoa, dựa cột mà nghe những đại cao thủ trong làng văn chương tranh tài cao thấp,không dám hó hé , vì sợ múa rìu qua mắt thợ, lý lẽ đem ra tranh luận ngô nghê và buồn cười lại lòi cái dốt của mình ra; học hỏi được gì không thấy lại bị thiên hạ cười là xấu hay nói tốt, dốt hay nói chữ. Tuy nhiên, hôm nay, qua mấy bài viết của tác giả Đông La, thấy cất giọng rất cao, át cả tiếng nhiều vị khác, làm tôi cũng bị nhức óc theo, đành muối mặt có vài lời ngô nghê ngốc nghếch để góp ý với ông.
Tác giả Đông La viết rằng: ông rất trân trọng nâng niu, cất giữ những lời khen tặng ông trên sách báo, đặc biệt trên Talawas, trong khoảng thời gian ngắn đã có tới những 2 lần được khen,gần bằng(3lần?) được khen trong hơn 20 năm cầm bút trong nước, không kể nhiều ngàn lần không phải trên sách báo , mà được khen ở ngoài đời(thư từ, điện thoại). Có điều ông nản chí và băn khoăn vì không bao giờ được có mặt trong bàn tiệc văn chương VN, ý ông muốn nói chưa được cưng chiều đãi ngộ? Ông phân vân tự hỏi:không biết mình bất tài hay nền phê bình ở VN bất tài ,bất công? Đến đây, tôi cũng bắt chước ông tự hỏi những lời ca ngợi phê bình và sự nhập cuộc vào cái bàn tiệc văn chương cho người cầm bút có thực sự quan trọng đến thế không? Tôi cứ tưởng văn chương chữ nghĩa là sự chuyển tải những ý nghĩ của mình đến nhiều người khác, đồng cảm cũng có, phản bác cũng nhiều, khen cũng mừng,mà chê cũng vui, viết mà không ai thèm ghé mắt đến mới đáng buồn. Còn chuyện bất tài hay không bất tài, có được nhập tiệc hay không chỉ là thứ yếu. Văn dĩ tải đạo, miễn là đừng bẻ cong ngòi bút của mình, rồi sẽ được công nhận. Các cụ Tản Đà, Tú Xương của ta thời trước cũng có được đãi ngộ đâu, thế rồi văn thơ các cụ cũng vẫn đi vào văn học sử nước nhà để cho con cháu chúng ta bình phẩm và học hỏi.. Băn khoăn vậy thôi chứ ông cho biết là hiểu ra vấn đề ngay: ông chưa nổi tiếng, một là vì ông một mình một chợ, ở lưng chừng giữa 2 phái, không tô đỏ cũng chẳng bôi đen, không ai cho ông ngồi chung cả; hai, vì ông không có tên trong hội nhà văn nên không được đội lên mây xanh; ba, vì trình độ và thái độ của các ngưòi phản biện không đủ cao để nâng đúng tầm lý lẽ của ông. Điểm thứ ba là điểm chính ông Đông La dùng để phản biện những tác giả phê bình những luận cứ của ông, tôi xin được nói tới sau. Riêng điểm 2 về việc không được ở trong hội nhà văn VN, một nhà văn VN (ông Trần Mạnh Hảo?) có phát biểu trong 1 cuộc phỏng vấn mới đây thôi,: thẻ hội viên (hội nhà văn VN), nó chỉ là mảnh giấy nhỏ có hình, chữ ký của Hữu Thỉnh, để có cái mà ăn, và để cho anh công an phân biệt anh với , chẳng hạn, anh bán thịt lợn thôi mà. Sao ông Đông La coi trọng nó thế? Anh em cầm bút ở bên ngoài có mấy ai sống được bằng nghề viết lách đâu? Bây giờ tôi xin mạn phép đi vào ý chính trong bài “Vài cảm nghĩ về khen và chê” của tác giả.
Theo Đông La, ông rất thích thú được tranh luận với những người có trình độ, dựa trên căn bản, hiểu đúng lập luận của tác giả, dùng lý đấu với lý. Nhưng tiếc rằng, ông chỉ gặp toàn những người tranh luận có khả năng tư duy giới hạn, không đủ sức tiếp cận văn bản, các nghiên cứu và lập luận của ông nên có những phản bác ngô nghê buồn cười. Ông khó chịu nhưng không ngạc nhiên, vì chua xót nhận ra rằng, thực tế VN chưa bao giờ là 1 xứ sở của lý luận, của tư tưởng, của sáng chế và phát minh. Ông kết luận diễn đàn thường xảy ra những “đại chiến” kiểu “cơn bão trong ly nước”. Chuyện ông chỉ muốn tranh luận với những người đủ trình độ( nghĩa là người có trình độ ngang bằng hoặc hơn ông) là 1 điều vô lý và thiếu công bình.; chúng ta tranh luận phản bác để có cơ hội tìm hiểu học hỏi nhau, chứ không phải để khoe khoang kiến thức hay chỉ để sửa chữa những sai lầm thiếu xót, tại sao ông có thể tranh luận tìm hiểu ở những người đáng làm thầy của ông, mà không cho người dưới cơ ông cái cơ hội học hỏi nơi ông và những người kiến thức rộng rãi khác? Nếu những nhà lý luận cao cơ hhon ông cũng nghĩ như ông thì họ có muốn tranh luận với ông không? Đáng lẽ ông giỏi giang, nên rộng lượng để chỉ ra cho những người kiến thức nông cạn như tôi đây được mở mắt. Hơn thế nữa,ngay cả những người dốt nát nhất, mọi người vẫn có thể học hỏi ở họ một điều gì đó. Tôi còn nhớ trên 15 năm trước, khi tham dự 1 buổi lễ giã biệt , tuyên dương 1 bà giáo già về hưu, bà đã phát biểu: “thực ra, trong hơn 30 năm dạy học, đám trẻ đã không học được tôi nhiều bằng cái tôi học được từ chúng”. 1 câu nói mà từ đó đến nay tôi rất cảm động và đã lấy làm phương châm cho cuộc sống. Việc ông cho rằng VN không là xứ sở của những lý luận, tư tưởng…ông có quá cường điệu không? Xin ông đưa những dẫn chứng cụ thể? Có thể các tư tưởng , lý luận lớn , các sáng kiến , phát minh vĩ đại chưa có, nhưng tầm trung và nhỏ thì thiếu gì; nhà nước VN chẳng đang bắt toàn dân học tập tư tưởng HCM, BCT/TW của ĐCSVN chẳng đang loay hoay giải thích cái đuôi định hướng XHCN trong một nền kinh tế thị trường đó sao? Mấy năm trước chả có 1 ông nông dân chế máy cắt cỏ thành máy gặt lúa? Năm rồi có 1 ông kỹ sư tại Tây Ninh đã đang chế tạo cái “máy bay lên thẳng” đầu tiên của VN sao? Còn điều này nữa: ông đang tranh luận trên Talawas, một diễn đàn mở có quy mô toàn cầu mà, đâu phải chỉ ở trong nước VN, tại sao ông lại có nhận định chua xót trên?
Nói về tác giả Cố Nhân, ông Đông La nhắc đến những nguyên lý của triết học trong những quy luật cơ bản chi phối sư phát triển của cả tự nhiên và xã hội, ông phàn nàn rằng tác giả Cố Nhân bàn về lý luận mà phủ nhận lập luận thì còn tranh luận nỗi gì. Tại sao không nhỉ? Phủ nhận 1 lập luận cũng là 1 lý luận: lý luận phản bác. Đó là sự tranh luận. Nếu lập luận của ông đưa ra đều được hoàn toàn ủng hộ thì đâu còn tranh luận nữa.
Ông lại chê ông Cố Nhân không hiểu thế nào là bóc lột. Theo ông, chỉ có định nghĩa của Marx là đúng: bóc lột nghĩa là chiếm đoạt giá trị thặng dư,bần cùng hóa người lao động, rồi dùng sự chiếm đoạt ấy nô dịch người khác. Nếu thế xin hỏi, thay vì đem cái chiếm đoạt ấy đi nô dịch người khác mà đem nướng vào các cuộc đỏ đen thì có phải là bóc lột không thưa ông Đông La? Ông mê mẩn Marx đến nỗi, cái gì của Marx cũng là tuyệt đối: Marx thấy sự bất công đó là mầm mống, là nguyên nhân của cách mạng xã hội. Ông Đông La cũng cho rằng, tuy chưa được thành xã hội như Marx tưởng tượng nhưng sư tiến bộ và công bằng trong xã hội của các nước tư bản ngày nay có được, không phải tự nhiên mà có, mà đã được đổi bằng máu của những cuộc kháng chiến xâm lược và bất công. Xin lỗi ông Đông La, đọc câu ông chê tác giả Cố Nhân là ngớ ngẩn khi phê bình ông ở chỗ này, xin nói ngay ông là kẻ ăn ốc nói mò. Các xã hội Tây Phương hiện tại, ngoài Pháp có cuộc Cách Mạng xã hội 1789 mà máu đổ ra cũng không nhiều lắm, các quôc gia khác như Anh, Úc, Tân Tay Lan , và đặc biệt là Mỹ, không nơi đâu có cuôc nổi dậy đẫm máu của giới lao động chống lại đám tư bản, giữa chủ nhân và công nhân, giữa chủ đồn điền và nông nô, chủ da trắng và nô lệ da đen. Có bao giờ ông đã đọc tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió (Gone with the Wind) của Mỹ để biết về liên hệ chủ tớ giữa dân da trắng và dân nô lệ da đen miền Nam Hoa Kỳ? Tác phẩm lớn vẫn được coi là 1 biểu tượng văn học của Mỹ để hiểu thế nào là xâm lược, thế nào là bị trị, thế nào là anh dũng, thế nào là hèn nhát, thế nào là cao thượng, thế nào là vị tha. Quá trình tư bản của những xã hội Tây phương này không có sự thay đổi , mà chỉ là sự liên tục cải tiến để cho nó mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn.
Tranh luận với Vũ Huy quang về lịch sử, ông Đông La định nghĩa : lịch sử là 1 quá trình, 1 khoảng thời gian trong quá khứ. Ông viết: “ Lịch sử làm sai quy trình…cũng chính là lịch sử làm sai lạc"… và ông buồn cười vì ông VH Quang hiểu không đúng ý ông. Trước hết, ông thử thay thế từ lịch sử bằng cái định nghĩa của ông ở trên xem câu văn của ông có ý nghĩa hay không? Tôi thực tình không hiểu ý ông muốn nói gì. Công việc của người viết là làm sao để người đọc hiểu ý mình rõ ràng nhất bằng một cách đon giản nhất và nhanh nhất. Không làm được việc này, ta nên tự cười mình, chứ sao lại cười người đọc?
Qua phần phản bác của tác giả với ông Nguyễn Trung Lương, xin được miễn bàn vì quá rối rắm, tối nghĩa và khó hiểu. Tuy nhiên xin được chia sẻ với ông ĐÔng La rằng: 1 học thuyết mang tính chủ nghĩa (như CNXH) để chống lại 1 chủ nghĩa khác ( như CN tư bản) có thể đúng hoặc sai, tùy theo lý luận . Nhưng khi chủ nghĩa ấy quay ngược 180 độ để theo đuôi cái chủ nghĩa mà nó từng chống đối bài bác, ra vẻ “đổi áo đổi màu” kiểu con cắc kè để tồn tại và thích ứng với môi trường và đời sống thì cái chủ nghĩa ấy chắc chắn là sai trái và đã chết Cho đó là 1 sự biến đổi chung nhất trong quy luật của sự tiến triển như lập luận ông đưa ra chỉ là một nguỵ biện,một cãi chày cãi cối. Một điểm khác, khi ông cho rằng không có các nhà tư tưởng , các nhà khoa học, con người không được quyền tự quyết mà phải biết phục tùng một cách khoa học những giáo điều, đây cũng lại là 1 lập luận đôc tài đầy tính áp đặt lầm lẫn tai hại. Con người sinh ra trong tư do, phải được sống trong tư do, tự quyết cho cuộc sống của mình, miễn là sự tự do tự quyết ấy không xâm phạm tới quyền tự do tự quyết của người khác. Tại sao lại phải phục tùng một cách khoa học những giáo điều? Vả lại, xin ông giải thích như thế nào là phục tùng một cách khoa học? Khi viết :”Các Mác, một tình yêu bao la”, ông có nhìn vào thực tế những gì mà chủ nghĩa Mác gây ra trên thế giới chưa? Cho dù trên lý thuyết, chủ nghĩa Marx có hay đẹp cách mấy, trên thực tế qua vận dụng hàng trăm năm qua, nó đã gây ra quá nhiều máu và nước mắt cho nhân loại, là chỗ dựa cho những tội ác ghê rợn mang tính diệt giai cấp, diệt chủng. Đã là nền tảng gây ra hận thù, tội ác thì chính nó là tội ác, có một chút tình yêu nào trong đó để gọi là bao la?
Với tác giả Đinh Từ Thức, ông Đông La tính cho cuộc kháng chiến chống xâm lược của VN do ĐCSVN lãnh đạo là 1 quá trình bắt đầu từ năm 1911, ngày Hồ Chí Minh “tìm đường cứu nước”. Là 1 người tin vào khoa học, xin ông Đông La hãy dẫn chứng các tài liệu lịch sử, các lời tuyên bố có kiểm chứng của ông Hồ để chứng minh rằng, thực sự năm 1911, ông Hồ ra đi để tìm đường cứu nước. Dường như, chính ông cũng không tin lắm vào cái huyền thoại đó, bằng chứng là ông đã để những từ này trong ngoặc đôi trong lối viết của ông.
Để phản bác những lý luận có tính “trọng cứ hơn trọng cung” của Đinh Từ Thức, ông viết:cứ theo lập luận của ĐT Thức thì ĐCSVN phải từ trên trời rơi xuống. ĐCSVN, theo chứng cớ lịch sử, được sinh ra và nuôi dưỡng từ cái nôi Liên Xô và sau này Trung Quốc bảo bọc. Với 2 nguồn sữa mẹ cực kỳ to lớn cộng với sự gian manh xảo trá cố hữu của CS quốc tế (cứu cánh biện minh cho phương tiện) dùng thủ đoạn lừa bịp để cướp công kháng chiến của toàn dân VN. Có thực là người dân phải có đảng CSVN lãnh đạo mới biết phá kho thóc, trong khi Nhật đã đầu hàng Đồng Minh? Ngay cả khi ông trích dẫn phần phỏng vấn cụ Hoàng Xuân Hãn của bà Thuỵ Khuê, cũng không có bằng chứng nào cho là ĐCSVN giành quyền từ tay bọn xâm lược. Khi nói đến mặt trận Việt Minh, cụ HX Hãn nói đến một tập hợp của tất cả các đảng phái chống thực dân xâm lược Pháp, mà ĐCSVN chỉ là 1 phần nhỏ, có chỗ nào để cho rằng chỉ có ĐCSVN có công giành chủ quyền cho VN? Ông Đông La cho rằng lúc đó, nhân dân VN đang chết đói nên không có sức và không còn đầu óc để chiếm và giữ quyền lực là 1 nguỵ biện thiếu khoa học. Nên nhớ , khi trận đói năm Ất Dậu 1945 làm chết rất nhiều người, ước tính có đến trên 1 triệu , cũng không thể dựa vào dữ kiện này để tuyên bố rằng cả dân tộc VN đang chết đói và không còn đủ người và đủ sức để giành lại quyền từ tay bọn thực dân. Thế còn các đảng phái quốc dân khác ông bỏ đi đâu? Cũng cần nên biết, chính phủ đầu tiên do HCM lãnh đạo là một chính phủ liên hiệp nhiều thành phần. Chính sau này ĐCSVN đã dùng thủ đoạn để tiêu diệt các đảng phái trong thành phần liên hiệp này, các tài liệu về chứng cớ này có đầy rẫy trong và các thư viện ngoại quốc, ông Đông La cho rằng nghiên cứu của mình có tính khoa học sao không tham khảo? Việc HCM có công trong việc giành độc lập cho VN hay không? Công ấy to lớn bao nhiêu? Dữ kiện lịch sử khi được viết lại thật sự công minh sẽ chỉ ra điều ấy, không phải chỉ vì ĐCSVN và ông Đông La cho rằng nó to lắm thì nó phải to. Hơn thế nữa , chuyện công lao của ông Hồ có liên quan gì tới việc ông mang áp đặt cái chủ thuyết Marx Lenin đầy tai ương ấy lên dân tộc VN mà di hại của nó ngày nay vẫn còn đang rất khủng khiếp? Không lẽ vì ông có công lớn trong 1 thời điểm nhất định nào đó, là 1 anh hùng dân tộc, ông có quyền lãnh đạo toàn nước toàn dân theo ý riêng mình muôn đời theo như sự khăng khăng hiện tại của ĐCSVN được sao?
Chuyện ông Đông La cho rằng 99% nhân dân VN là công nông mà nông dân là chính, lực lượng CS gồm tất cả con em của nông dân là 1 sự gượng ép sai lạc, một lối tính lập lờ. Ông Đông La hãy đi tìm tài liệu của ĐCSVN để rõ vào thời điểm đó, con số chính thức đảng viên của ĐCSVN là bao nhiêu? Hiện nay, sau hơn 3 phần tư thế kỷ lập đảng, số đảng viên cũng chỉ khoảng 2 triệu, chưa tới 4% dân số cả nước, thế thì cái đa số của ĐCSVN vào lúc đó ở đâu mà có? Cái sự kiện trên 1 triệu người di cư vào Nam năm 1954, đa số là nông dân, sự kiện vượt biên sau 1975 của hằng triệu người dân bình thường của cả 2 miền đất nước chứng tỏ rằng đa số nhân dân đã vô cùng tin yêu và hoàn toàn nhắm mắt trao quyền cho ĐCSVN?
Là người cho rằng mình lập luận một cách khoa học, ông Đông La lấy dữ kiện ở đâu để khẳng định rằng ông nói cho đa số nhân dân? Xin dẫn chứng thời điểm ông hỏi ý dân hay trưng cầu dân ý để ông mạnh miệng tuyên bố rằng: thực sự rất ít người chối bỏ quá khứ, một quá khứ lừa bịp, đầy tang tóc, máu và nước mắt của nhiều triệu người dân vô tội, chỉ với mục đích làm vinh quang 1 đảng, tôn vinh một cá nhân, tôn thờ một chủ nghĩa? Như trên đã thừa nhận, ông chỉ ngồi 1 mình 1 chiếu, không tô hồng bôi đen, không thân thiết với ai, làm sao ông biết người dân không muốn thay đổi một chế độ tham ô thối nát và cùng hung cực ác, 1 đảng tự tung tự tác, cướp quyền bằng lừa bịp và bạo lực , làm gì có người dân nào cho phép đảng nắm lấy quyền lực ấy để đè đầu cưỡi cổ mình mãi mãi.? Sao tự mâu thuẫn thế ông Đông La?
Là người luôn lập luận một cách khoa học, làm sao ông có thể biện minh cho chủ thuyết Marx, mang cái vỏ bọc làm dáng của 1 xã hội tưởng tượng (chính ông nói là xã hội tưởng tưọng của Marx ), nhưng là cái cớ để 1 số người dùng làm điểm tựa để bám lấy quyền hành , đàn áp bóc lột chính đồng bào mình còn tàn tệ gấp trăm lần thời phong kiến thực dân? Thống kê nào cho ông biết số người oán ghét và muốn giải thể chế độ CS , đem chủ thuyết Marx Lenin vào thùng rác lịch sử chỉ chừng 1 đến 2% ? Miền Nam VN, một nửa nước đã biết rõ bộ mặt thật của ĐCSVN, sự sai trái,lỗi thời của XHCN từ trên 30 năm, một nửa kia cũng đã và đang có nhiều triệu người hiểu rõ đâu là sự thật. Còn ông Đông La, ông đang đứng ở đâu trên quê hương VN khốn khổ? Hãy đi ra khỏi cửa vài bước để nhìn, những cơ sở của đảng, của nhà nước thì nguy nga đồ sộ, các trường học ,bệnh viện thì già nua xấu xí, cán bộ đảng viên thì tham ô cá độ, lãng phí của công nhiều triệu đô la, công nhân lương tháng đáng giá 3,4 chục đô la, như thế là sự bất công hay là sự khác biệt tất yếu Nhân dân ra khiếu kiện đòi trả lại nhà đất của họ đã bị trưng thu hay mua rẻ để kiếm lời gấp trăm lần hơn là đòi lại sự công bằng hay cào bằng? Những quy luật phát triển của chủ nghĩa Marx trong duy vật biện chứng để cho ĐCSVN nắm toàn quyền cai trị nhân dân VN như chăn những con vật , đối với ông sẽ có giá trị mãi mãi? Cái lối ông gộp chung những cán bộ, nhân sĩ đang mạnh dạn lên tiếng cho quyền làm ngưòi của nhân dân VN vào dạng những người ham quyền lực bị thất sủng, vì quyền lợi, vì cái tôi của mình mà không có chứng cớ chứng tỏ ông không đàng hoàng và thiếu khoa học. Thử hỏi, họ được lợi lộc gì ngoài sự đàn áp , khủng bố , nghèo đói và tù tội cho bản thân và gia đình họ. Ông cứ việc ca tụng chế độ và chủ nghĩa nếu ông còn tin tưởng, hoặc chỉ vì miếng cơm manh áo. Đừng lôi cả dân tộc về hùa với mình để làm nhục những người quên chính bản thân và gia đình họ để tranh đấu cho những người khác. Đất nước VN đang ở tận đáy cùng của thế giới ông có thấy không? Hãy chỉ cho tôi và cả nhân dân VN, chỗ nào trên mặt trái địa cầu này, người ta đã áp dụng triệt để chủ nghĩa Marx mà con người được ấm no hạnh phúc, để cho tất cả chúng tôi sẽ cùng ông viết thật to chữ : Các Mác, một tình yêu bao la? Phương Duy
Australia, 12/02/2006
Đề tài liên quan:
* Các Mác- Một tình yêu bao la,Đông La,04/01/2006.
* Giới thiệu Đông La vào đảng, Ta Lo, 02/2006.
* Đôi điều trò chuyện cùng Đông La ,Nguyễn Quang, 25.05/2006<.
Showing posts with label Đối thoại. Show all posts
Showing posts with label Đối thoại. Show all posts
Chuyện người lính chiến
Vào thời điểm này năm ngoái (2005), đã có cuộc tranh luận ồn ào trên một số báo chí trong nước và hải ngoại về cuộc chiến Việt Nam. Có lẽ vì 2005 là một năm có cái mốc lich sử: 30 năm sau cuộc chiến. Con người vẫn thường hay phô trương hay làm ầm ỹ những sự kiện vào những mốc thời gian 5, 10, 15 20… năm. Điển hình,cuốn Khi Đồng Minh tháo chạy của tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã chọn thời điểm này để ra mắt độc giả. Không ít những cây bút quen thuộcTrần Trung Đạo, Lữ Phương, Tiêu Dao Bảo Cự… cũng lấy ba mươi năm làm chủ đề cho các bài viết. Nổi bật nhất phải kể đến bài viết Ba mươi năm Gọi tên gì cho cuộc chiến của Lê xuân Khoa trên BBC ngày 15/02/2005 đã gây nhiều phản hồi khá gay gắt. Sau đó đúng 1 tháng, báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của ĐCSViệt Nam ỏ trong nước cho đăng bài Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật của Nguyễn Hoà để kịch liệt phản bác những luận cứ của Lê Xuân (LX) Khoa. Trong khi LX Khoa đòi đối chất với Nguyễn Hoà ngay trên trang báo Nhân Dân mà không được, thì bài viết Gửi Nguyễn Hoà người đồng đội của anh Nguyễn Xuân Đức đăng trên Talawas ngày 25/05/2005 đã thay thế LX Khoa trả lời làm cho Nguyễn Hoà phải dịu giọng lại trong những bài viết sau. Ngay cả Võ văn Kiệt, cựu thủ tướng, lúc đó cũng có nhận định rằng: trong cuộc chiến có triệu người vui và triệu người buồn. Nhận xét kỹ, người viết bài này tìm ra được một điều khá lý thú: hầu như đa số những người kể trên, nếu không thuộc thành phần khoa bảng trí thức chưa từng cầm khẩu súng, chưa biết đến gói lương khô, hoặc nếu đã từng thì cũng thường là người ở về phía thắng trận, nơi họ nắm được hết toàn bộ báo chí và các phương tiện truyền thông khác để tha hồ nói theo ý mình. Trái lại, những suy nghĩ về thân phận người lính Việt Nam Cộng hoà, suốt mấy chục năm qua, chưa bao giờ được lắng nghe và đối thoại một cách công bằng và trên căn bản tôn trọng sự thật. Đã thế, hình ảnh của họ luôn bị tô vẽ, bóp méo, nhục mạ một cách ác ý cho hợp với sự tuyên truyền về sự xấu xa của “nguỵ quân ngụy quyền”, như thế mới đánh bóng được cái “sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”, cái “chính nghĩa chống Mỹ cứu nước” mới có chỗ để che dấu cái ý đồ chính yếu của chế độ quyết tâm xây dựng “Xã Hội Chủ Nghĩa” trên toàn cõi đất nước. Hậu quả là người dân Việt Nam cả 2 miền đã phải gánh chịu những hậu quả tàn khốc vì chính sách áp dụng triệt để CNXH những năm sau chiến tranh.
Sự bóp méo hình ảnh người lính Việt Nam Cộng hoà như một công cụ của đế quốc Mỹ để cố tình hạ nhục đó, đau lòng mà nói, đã để lại những xuyên tạc sự thật, không thua kém chính sách đầu độc tuổi thơ “trăm năm trồng người” của Hồ Chí Minh. Để chứng minh điều này, người viết xin có vài câu chuyện nhỏ, để chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của sự tuyên truyền nhồi sọ tàn độc đến mức nào: Vài tháng trước đây, trong một lần trò chuyện với một cô gái Việt Nam trẻ đã qua Úc khoảng 10 năm, khi biết người viết từng là người lính Việt Nam Cộng hoà, cô đã hỏi: “Hồi đi lính chú có lãnh lương không?”. Tôi trả lời: “Có chứ! không tiền lấy gì sống”. Cô hỏi tiếp: “Vậy chứ Mỹ trả lương chú bằng đô Mỹ hay bằng tiền Việt Nam?”. Đến đây, tôi thực sự kinh ngạc, phải chi cô sinh ra và lớn lên từ miền Bắc, đằng này, cô là một người miền Nam rặt, sinh trưởng và lớn lên trong một tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long. Tôi bảo cô miền Nam Việt Nam từng là một quốc gia riêng, có chính quyền và quân lực riêng, tiền tệ riêng, pháp luật riêng, không trực thuộc Mỹ và không do Mỹ trả lương. Việt Nam Cộng hoà nhận viện trợ Mỹ cũng giống như miền Bắc Việt Nam nhận viện trợ từ Liên Xô, Trung Cộng và các nước CS Đông Âu. Quân đội Mỹ cũng như các quôc gia khác như Nam Hàn, Thái Lan, Úc, New Zealand, Philippines đến Việt Nam chiến đấu với tư cách Đồng Minh hợp lực yểm trợ. Cho phép quân đội Mỹ và Đồng Minh vào trực tiếp chiến đấu tại Việt Nam có thể là một chiến lược sai lầm của một vài cá nhân lãnh đạo đất nước vì đã làm giảm đi chính nghĩa của Việt Nam Cộng hoà: chiến đấu cho tự do dân chủ và hạnh phúc của đống bào chống lại chế độ CS tàn ác vô nhân đạo, nhưng miền Nam Việt Nam không hề mất đi chủ quyền và sự độc lập của mình. Tôi có hỏi lại cô rằng tại sao cô sống ở miền Nam lại không biết những thực tế rõ ràng và tầm thường như thế. Cô cho rằng vì ở thời điểm 1975, cô còn quá nhỏ, chỉ mới 2, 3 tuổi, và từ đó đến nay, cô chỉ được học tập nghe nói lính miền Nam đánh thuê cho Mỹ, được Mỹ trả lương. Ngoài ra, không biết gì hơn.
Có lẽ, chuyện cười ra nước mắt hơn hết là trường hợp người bạn của tôi, 1 sĩ quan Việt Nam Cộng hoà, định cư tại Úc sau một thời gian đi tù cải tạo rồi vượt biên. Vì rất thương cha mẹ anh em trong gia đình còn kẹt lại tại Việt Nam nên tại Úc, anh đã cố gắng làm việc tối đa, ăn tiêu thật dè xẻn. Bao nhiêu tiền dành dụm,anh đem gởi về nước lo lắng cho các em tìm đuờng ra đi. Cuối cùng, anh bảo lãnh cả gia đình gồm cha mẹ và các em nhỏ qua Úc định cư. Hoàn thành các việc đó xong, anh mới kể thực những khó khăn cơ cực mà anh và vợ con đã phải cố chịu đựng để có thể giúp đỡ gia đình trong thời gian qua, nhưng chính cha mẹ anh lại không tin. Có lần anh kể rằng ba anh bảo anh: “Nè! nói thiệt đi, tao được biết là trong những năm mày đi cải tạo, qua đây thằng Mỹ nó tính toán rồi trả lại lương đầy đủ, vậy mày lãnh được của nó bao nhiêu?”. Anh bạn bảo rằng nói sao ông cũng nhất định không tin rằng cả đời anh chưa bao giờ nhận lương của Mỹ, ngay cả khi anh nói với cha mẹ là chúng ta đang sinh sống ở Úc chứ có phải ở Mỹ đâu?
Kể ra một vài chuyện nhỏ nhặt trên đây, tôi chỉ muốn nói: người lính Việt Nam Cộng hoà cho đến bây giờ, chưa bao giờ có cơ hội được phác hoạ hình ảnh của mình một cách trung thực, không phải chỉ do phía bên kia, mà ngay cả bên hàng ngũ của người dân miền Nam tự do, người ta cũng có cái nhìn về người lính Việt Nam Cộng hoà rất lệch lạc, đôi khi ngay vì sự hờ hững, sơ sót của chính một số nhân sự trong tập thể quân lực Việt Nam Cộng hoà. Một người bạn của tôi vừa tìm được trong thư viện địa phương một dĩa DVD về cuốn phim Người tình không chân dung (1971) do Hoàng Vĩnh Lộc đạo diễn và Kiều Chinh thủ vai chính. Tôi mượn xem. Cuốn phim đã được quay trong thời chiến. Nay hơn ba mươi năm mới có dịp coi lại. Nói coi lại vì là cuốn phim đã cũ, sự thực tôi mới coi lần đầu. Trước đây chỉ nghe báo chí đề cập đến. Khi nó được trình chiếu trong các rạp thành phố miền Nam, đời lính chiến xa nhà làm tôi lỡ dịp. Cho dù có gặp đúng lúc đi nữa, chưa chắc tôi đã xem. Những ngày phép ngắn ngủi phải dành cho gia đình, cho bạn bè, người yêu, không ai dại chui đầu vào rạp hát cho phí những giây phút quý báu ấy. Dù sao, nghệ sĩ Kiều Chinh cũng là một khuôn mặt lớn của nền điện ảnh non trẻ miền Nam. Tôi đã gặp chị một lần vào giữa năm 1971, khi chị đi quay một cảnh cho 1 phim khác, dường như là cuốn Bão Tình, trong buổi lễ mãn khoá và đêm dạ vũ của chúng tôi ở quân trường Nha Trang, chúng tôi vô tình đã trở thành những diễn viên phụ cho chị trong cuốn phim đó. Nói như thế để mọi người hiểu tôi rất quý mến và trân trọng tài năng của chị. Tôi cũng biết rằng đây là một công ty điện ảnh tư nhân, sản xuất phim ảnh với mục đích thương mại. Tuy nhiên vì phim lấy bối cảnh chiến tranh Việt Nam làm nền chính và chuyện phim xoay quanh những người lính Việt Nam Cộng hoà, lại được yểm trợ, giúp đỡ bởi một số đơn vị của quân lực Việt Nam Cộng hoà, nên khi xem xong, tôi cảm thấy hơi phiền lòng. Tuy có nói lên được những cay đắng nghiệt ngã của con người trong một cuộc chiến khốc liệt, nhưng lại làm biến dạng khuôn mặt thật của người lính Việt Nam Cộng hoà vốn dĩ đã mang nhiều vết hằn của bất hạnh, bất công qua những sai lầm cơ bản trong cách làm phim. Bỏ qua những tình tiết kỹ thuật, chuyện phim, tài nghệ, v.v… ở đây tôi chỉ nhìn vào vài khía cạnh diễn tả hình ảnh những người lính mà tôi cho rằng đã đi quá xa sự thực. Sau những ngày hành quân gian khổ, người lính Việt Nam Cộng hoà trở về căn cứ, thành phố, họ có thể tụ tập nhậu nhẹt say sưa phá phách chút đỉnh, cố quên đi những lúc kề cận với cái chết, còn cái hình ảnh người lính trong phim sầu đời, ngồi uống một mình trong quán rồi tuôn ra một lời chửi rủa hằn học: “Hôm nay tao uống nhiều rồi, thằng nào lôi thôi tao đánh bỏ mẹ”, theo tôi, đó không phải là phong cách thực của người lính miền Nam. Họ không oán hận chiến tranh và tuyệt vọng cho số kiếp đờì mình đến mức phải ngồi uống một mình và chừi đổng. Quán “U hồn cốc”, trong đó đám lính ăn nhậu nhồm nhoàm bên dưới những bức tranh vẽ tưởng nhớ đồng đội “vỡ đầu”rồi sủa lên như chó, có vẻ như muốn tạo ra một chút vừa nghệ thuật vừa man rợ, thực ra chỉ có trong óc tưởng tượng của người dựng phim không biết đến đời lính là gì, có lẽ ông (bà) ta chịu ảnh hưởng của loại phim cao bồi “về miền viễn tây” của Mỹ? Đó không phải là phương cách người lính Việt Nam Cộng hoà biểu hiện trong sự tưởng nhớ đến những bạn đồng đội đã ngã xuống. Người Việt Nam thường có những hành xử trang trọng hơn cho người đã khuất.
Điều làm tôi phiền lòng hơn hết là cách diễn tả tay đại úy Quyến trong phim. Hình ảnh của tay này thật tồi bại, hắn nhìn đàn bà chỉ toàn là một thứ đượi. Hắn thẳng tay hành hung đồng đội, như một côn đồ, thèm khát dục tình như một con thú, nhưng lại len lén xách giầy rút lui chỉ với cái nhìn lạnh lùng của người đàn bà? Không, cho dù là hư cấu, tôi cũng không thể nào tưởng tượng tác phong của 1 người lính, lại là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hoà như thế. Cho dù có thật đi nữa, tại sao lại đưa lên màn ảnh một vài cá nhân nhỏ nhoi, để nó biến thành nỗi nhục cả một tập thể? Không lẽ phải làm quá đi như vậy thì mới ăn khách? Vả lại, cuốn phim, đành rằng do một hãng tư nhân sản xuất, lại được sự hỗ trợ mạnh mẽ về nhân vật lực của một số đơn vị quân đội, tôi không hiểu những người khoác bộ đồ quân phục đã giúp hoàn thành cuốn phim nghĩ gì khi nó làm sai lệch hình ảnh chiến sĩ của mình. Có người cho đó là biểu hiện về mặt tiêu cực của chiến tranh. Tôi không nghĩ thế, xuyên tạc sự thật thì đúng hơn. Bây giờ, mấy mươi năm sau, thế hệ trẻ coi lại, họ sẽ đánh giá QL Việt Nam Cộng hoà ra sao? Tôi xin dừng lại ở đây về cuốn phim, nếu không sẽ quá dài.
Trở về với thực trạng hiện tại, ngày 30 tháng 4 năm nay, Việt Hồng (DCVOnline) đã có 2 bài phỏng vấn một số những người lính của cả 2 miền Nam Bắc. Tuy số lượng rất nhỏ nhoi, không thể là tiếng nói của toàn thể quân nhân các cấp, nhưng đã được thể hiện cả trong và ngoài nước, có thể phản ánh một ít suy nghĩ chung của những người một thời “súng là vợ, võng là giường, vòm trời là mái, cây rừng là bạn”. Đa số người lính cả 2 bên chiến tuyến còn sống sót đến ngày hôm nay dường như có chung một ý nghĩ: Chúng tôi đã từng bắn giết nhau trên chiến trường, nhưng chúng tôi vẫn là anh em, vẫn là người dân Việt chung một giòng máu. Chúng tôi mỗi người từng yêu nước theo cách của chúng tôi. Chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ người lính là bảo vệ quê hương. Chúng tôi không hận thù nhau và chúng tôi không muốn hận thù kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Oán thù chỉ dành cho những kẻ đã gây ra cuộc chiến. Chỉ có một điều: chúng tôi vẫn còn bất đồng về việc ai đã là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tàn khốc đó.
Với người lính Việt Nam Cộng hoà, cầm súng chiến đấu không phải đi làm cách mạng. Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm là ba tiêu đề chính của tập thể quân lực Việt Nam Cộng hoà, trong đó Tổ Quốc trên hết. Người lính Việt Nam Cộng hoà bảo vệ Tổ Quốc và chỉ Tổ Quốc mà thôi ở trong bất cứ chính quyền hợp hiến hợp pháp nào. Người lính Việt Nam Cộng hoà để cho đất nước theo dòng chảy lịch sử cùng với đà tiến triển nhân loại và thế giới chứ không kìm hãm hay đi làm mới lịch sử. Chính với những suy nghĩ đơn giản trên, người lính miền Nam chiến đấu và chấp nhận hy sinh, kể cả hy sinh mạng sống với sự mặc nhiên, không có sự hận thù với người lính miền Bắc. Nói về lý tưởng, người viết cũng đã từng bàn đến trong một bài trước đây Gửi người bên kia chiến tuyến (Đàn Chim Việt online 14/07/2005) xin khỏi nhắc lại.
Những mất mát lớn lao trong cuộc chiến hầu như hiện diện trong mỗi một gia đình người Việt Nam. Cụ thể bản thân gia đình người viết, đứa em trai, cũng là một người lính Việt Nam Cộng hoà, đã hy sinh ở một chiến trường nào đó mà cho tới nay, sau hơn ba mươi mốt năm, mới chỉ nhận được một tin tức vào đúng ngày Tết Bính Tuất vừa qua từ một chiến hữu đã tự tay chôn cất (tiện đây cũng xin cảm ơn báo DCV online đã cho đăng những lời nhắn tin của tôi trước đó) để biết ngày cúng giỗ. Bạn bè thân thuộc nằm xuống thì không sao kể hết. Có một thời sau chiến tranh, tôi cũng oán hận vô cùng, vì “hoà bình rồi sao mắt mẹ chưa vui”. Mẹ tôi, một người đàn bà quê mùa nghèo khổ, một đời lam lũ vất vả. Đôi chân gầy ống thấp ống cao, chắt chiu dè xẻn từng cắc bạc để mua vườn tậu đất, vì theo ý niệm đơn giản của bà, không có gì vững chãi hơn ruộng vườn đất đai để lại cho con cháu. Đó chính là cơm ăn áo mặc, là sự bảo đảm tương lai. Ấy thế mà những mảnh mồ hôi nước mắt đó, trong phút chốc không cánh mà bay: chỉ một thời gian ngắn sau 30/4/75, ngoại trừ vuông đất nhỏ quanh nhà, tất cả đất đai ruộng vườn của bà bị tịch thu, mang danh nghĩa xây phòng y tế, dựng sân banh, xây nhà tình nghĩa. Thực tế, bệnh xá được cất lên chỉ là một cái chòi nhỏ, cán bộ thỉnh thoảng đến phát cho dân dăm ba viên thuốc dân tộc trị bá bịnh, sân banh thì không thấy đâu, chỉ thấy đa số đất đai được cán bộ chia nhau xây nhà dựng cửa. Có hai thằng con trai thì một đứa lên rừng cải tạo, đi mãi không về, đứa kia thì như tan vào hư không, bặt vô âm tín. Mất trắng cả người lẫn của, bà chỉ biết chép miệng thở dài: “Gặp thời thế thế thì phải chịu chứ biết làm sao?”. Đây chỉ một mảnh đời nho nhỏ của gia đình tôi, bức tranh của toàn thể miền Nam với hàng triệu con người và gia đình còn thê lương hơn nhiều.
Nhắc lại lịch sử là nói về quá khứ. Quá khứ của người lính miền Nam lại quá đau thương. Vì thế trong lúc này, một số người ở phía bên kia có luận điệu cho rằng, người lính Việt Nam Cộng hoà hay nhắc nhở đến quá khứ vì mặc cảm mang nỗi nhục bại trận, vì muốn mãi mãi hận thù. Với những người này, người viết xin trả lời ngay rằng: nếu chúng ta chấp nhận đối thoại trên tinh thần thẳng thắn, tôn trọng sự thật, và những luận cứ thuyết phục đáng tin, chúng ta có thể tiếp tục bàn cãi. Nếu không thì nên chấm dứt ở đây, vì những lời xuyên tạc, mạ lỵ, những bằng chứng vu vơ không thuyết phục sẽ chẳng dẫn chúng ta đi tới đâu.
Trước hết, người lính Việt Nam Cộng hoà, ngay từ khi còn nhỏ đã được giáo dục trong một môi trường mở lành mạnh với chủ trương không hận thù, nên, như trên đã nói, đi vào cuộc chiến không mang theo thù hận, không cố tình đuổi tận giết tuyệt, không theo “đường vinh quang xây xác quân thù”. Nếu cần phải hy sinh đền nợ nước thì “thề quyết lấy máu đào (của chính mình) đem báo”. Oán thù chỉ tập trung vào lớp đầu não lãnh đạo cầm quyền CS Việt Nam quyết tâm gây ra chiến tranh, gây cảnh nồi da xáo thịt. Oán thù vì Đảng CS Việt Nam đã áp đặt lên dân tộc những chính sách đầy sai lầm, dã man tàn ác làm dân tình điêu linh, đất nước tụt hậu. Oán thù vì đám lãnh đạo CS Việt Nam tước đoạt hết mọi quyền căn bản làm người của nhân dân để toàn quyền sai bảo nhân dân như những con vật. Oán thù vì những trò lừa bịp xảo trá của đám thiểu số lãnh đạo cướp quyền, đè đầu cưỡi cổ dân mà miệng thì cứ xoen xoét là đầy tớ của dân. Cái đại hội đảng X vừa qua là một ví dụ cụ thể cho sự lừa bịp trắng trợn. Cũng bày trò trình diễn đóng góp ý kiến, cũng bày đặt bầu bán, nhưng kết quả thì lại do bọn chóp bu xếp đặt trước. Cho nên, cái lũ sân dân mọt nước ấy không những đáng hận thù mà còn đáng nguyền rủa.
Ông Thiệu có thể ngây thơ khi quá tin vào Mỹ, người Mỹ có thể non kém với lý thuyết này, giải pháp kia. Họ đã sai lầm và dại dột khi áp lực các chính quyền Việt Nam Cộng hoà để đem quân vào Việt Nam, trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến quốc - cộng của Việt Nam, làm cho miền Nam, dưới mắt người dân miền Bắc và dư luận thế giới, mất đi cái chính nghĩa bảo vệ tự do chống CS độc tài toàn trị. Thực ra quân Mỹ và các Đồng Minh khác chỉ là các lực lương bạn đến hỗ trợ giúp đỡ. Cứ nhất quyết cho rằng Mỹ là tên đế quốc xâm lược thì xin hãy chứng minh, vùng đất nào, lãnh thổ nào hay thành phố làng xã nào của Việt Nam đã bị Mỹ cai trị? Bảo rằng Mỹ đến Việt Nam để đàn áp bóc lột dân lành như lời tuyên truyền của Đảng CS Việt Nam thì hãy tự hỏi sau hơn mười năm nhập cuộc, sau khi đổ ra hàng đống tiền của và sinh mạng, người Mỹ đã gặt hái được lợi lộc gì từ Việt Nam? Nếu lập luận Mỹ dùng chiêu bài chống cộng để thực hiện chính sách thực dân mới, thì chính sách này là gì? Tại sao bây giờ không còn nghe nói đến chính sách thực dân mói đó nữa? Tại sao bây giờ Đảng CS Việt Nam lại nhiệt tình hăm hở bang giao chào đón Mỹ?
Dù sao, sau 31 năm chấm dứt cuộc chiến, cả 2 bên cùng là người Việt máu đỏ da vàng mà vẫn cứ mạt sát nhau, bỏ mặc cho đất nước đứng bên bờ vực thẳm, có nguy cơ bị ngoại bang kiềm chế và đi đến chỗ diệt vong thì quả chúng ta thua loài súc vật. Ác thú còn không ăn thịt đồng loại, chúng ta lại nỡ nhục mạ nhau cho đến bao giờ? Trong chiến tranh, Đảng CS Việt Nam đã lừa bịp được nhân dân và quân đội miền Bắc với các chiêu bài đánh Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, độc lập dân tộc, nhưng ngay sau khi thống trị trên toàn cõi đất nước, các mặt nạ ấy đã rơi xuống, lộ nguyên hình Đảng CS Việt Nam chỉ muốn giành quyền lãnh đạo độc tôn theo đường hướng XHCN của CS quốc tế. Một cách chính xác là tự nguyện làm chư hầu cho Liên Xô, Tàu cộng trong tham vọng CS hoá toàn cầu. Tiếc thay, cáí thế giới hung tàn tôn thờ một chủ thuyết giả nhân giả nghĩa, chủ trương lấy bạo lực làm nòng cốt đấu tranh giành quyền lực để cải tạo xã hội tưởng như một sức mạnh vô song không gì cản trở nổi, bỗng một sớm một chiều tự sụp đổ tan tành. Đảng CS Việt Nam có muốn lấy tay che mặt trời thì sự thật, cố bưng bít cách mấy, vẫn là sư thật. Ngày nay, Đảng CSViệt Nam không còn chỗ dựa để che dấu cái ý đồ dùng mọi biện pháp, phương tiện có trong tay để củng cố quyền hành, giữ vững quyền lãnh đạo độc đảng để cướp đoạt các quyền căn bản như quyền làm người, quyền được sống trong một xã hội nhân bản có tư do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, tự do đi lại trong nước, quyền làm một công dân chân chính như được tự do ứng cử, bầu cử, tự do đề cử, bầu chọn người đại diện cho mình trong chính quyền.
Trong những năm vừa qua, đám lãnh đạo CS Việt Nam lại mời gọi chính kẻ thù cũ là chính quyền, tư bản Mỹ và đám doanh nhân nứơc ngoài vào, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tha hồ bóc lột tài nguyên, nhân vật lực của nhân dân để cùng ăn chia lợi lộc đã làm nhân dân lao động uất ức đến nỗi nông dân vượt hàng ngàn cây số về Hà Nội khiếu kiện đòi lại nhà cửa đất đai bị cán bộ đảng ỷ thế ỷ quyền cướp đoạt, công nhân và dân lao động nghèo ở các thành phố phải liên tục đình công khắp nơi dù bị cấm đoán và đàn áp dã man.
Mười mấy năm qua, lúc nào đảng cũng tuyên bố diệt tham nhũng, nhưng thực tế lại dung dưỡng,bao che cho bọn cán bộ từ nhỏ tới lớn tha hồ tham ô nhũng loạn, hết sách nhiễu doạ nạt nhân dân lại quay qua sang đoạt bòn rút tài nguyên quốc gia, những vụ tham ô móc ngoặc ở trong tất cả mọi bộ sở ngành nghề mà báo chí trong nước lôi ra một phần ánh sáng trong thời gian vừa qua lên đến hàng chục tỷ mỗi vụ chứng tỏ cái cơ chế do đảng lãnh đạo đã đi đến tận cùng của sự tha hoá. Người dân trong nước thật nhục nhã khi thấy ngay cả các tổ chức quốc tế, dù với sự tế nhị ngoại giao, cũng không còn ngoảnh mặt làm ngơ, phải điều phái nhân sự đến kiểm tra. Vậy mà Đảng CS Việt Nam vẫn mặt trơ mày bóng, coi như không có chuyện gì xảy ra, đại hội đảng vẫn cứ tổ chức rình rang, vẫn tuyên bố thành công tốt đẹp. Tất cả những sự xảo trá lừa bịp của Đảng CS Việt Nam đồi với nhân dân Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua đã đến mức không thể nào chịu đựng nổi.
Tôi lại lan man quá xa đề tài.Người lính ở bên chiến tuyến nào vẫn chỉ nên là người lính thuần tuý. Điều này có nghĩa quân đội phải hoàn toàn độc lập với mọi đảng phái, quân nhân không làm chính trị. Tuy vậy, người lính không là một cỗ máy giết người. Ta có thể là địch thủ bắn giết nhau trên chiến trận. Rời chiến trường, ta quay về với bản ngã con người bình thường. Chiến đấu để làm tròn nghĩa vụ công dân và bảo vệ những lý tưởng, giá trị (có thể đối chọi nhau) mà ta tin tưởng không phải để thoả mãn lòng căm (hận) thù quân địch. Trở lại với hình ảnh người lính Cộng Hoà năm xưa. Lịch sử đã đi qua, chúng ta không thể thay đổi lịch sử., nhưng nhắc lại lịch sử để chúng ta cùng học hỏi và rút ra kinh nghiệm của những bài học đắng cay ấy. Năm 1975, miền Nam Việt Nam thất thủ nhưng không mất chính nghĩa . Không những thế, càng ngày, cái chính nghĩa bảo vệ tư do,dân chủ, sự an bình và hạnh phúc của nhân dân càng tỏ ra sáng ngời khi Đảng CS Việt Nam mỗi ngày mỗi lộ nguyên hình sự sai trái, tính chất cuồng bạo và sự tàn phá của nó lên đất nước và dân tộc. Hơn ba mươi năm sau, bom đạn đã dứt nhưng cuộc chiến giữa người dân Việt Nam và Đảng CS Việt Nam chưa tàn. Cuộc chiến hôm nay không còn là vũ khí đạn dược với máy bay, tàu chiến, xe tăng. Đây là cuộc chiến của kẻ bị áp bức chống bạo cường, của sự thật chống gian trá, của chân lý chống tham nhũng bất công, của cái thiện chống cái ác. Cuộc chiến sẽ là sự đấu tranh bất bạo động, nhưng kiên quyết để đòi cho bằng được quyền sống của con người. Đòi hỏi ĐCSViệt Nam phải trả lại tất cả những gì đã cướp đơạt của nhân dân: từ những cướp đoạt chính quyền đến những cướp đoạt công lao, tài sản, tài nguyên, đặc biệt các quyền tự do dân chủ đã được xác định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Người lính Việt Nam Cộng hoà, trong cương vị người dân Việt Nam, tự thấy mình vẫn có trách nhiệm tham gia cào công cuộc chiến đấu đòi hỏi tự do dân chủ này.
Trước tình hình hiện tại, khắp nơi trên đất nước, đồng bào đủ thành phần: trí thức, tôn giáo, công nhân, nông dân, cựu chiến binh, thanh niên sinh viên học sinh trong ngoài nước đang nổi dậy thành lập phong trào, tổ chức đòi tự do dân chủ, người lính Việt Nam Cộng hoà luôn luôn sát cánh tham gia hỗ trợ. Người lính Việt Nam Cộng hoà kêu gọi anh em trong QĐND Việt Nam hãy trở về đúng với vị trí quân nhân của mình: chỉ bảo vệ Tổ Quốc và Dân Tộc, không chiến đấu cho một cá nhân hay đảng phái nào. Anh em QĐND Việt Nam hãy thức thời tách mình ra khỏi Đảng CS Việt Nam, không cho Đảng CS Việt Nam hay bất cứ đảng phái nào được chi phối,chế ngự để lũng đoạn. Hãy vì danh dự một quân nhân trả thẻ đảng, không nghe lệnh đảng, không cho phép đảng điều hành cơ cấu quân đội, và không bao giờ cầm súng bắn vào nhân dân. Được như vậy, Đảng CS Việt Nam sẽ không còn chỗ dựa để đàn áp, bóc lột nhân dân Việt Nam nữa. Được như vậy, người lính Việt Nam Cộng hoà cũng sẽ nghiêng mình ngưỡng phục các anh, sẽ tôn vinh các anh là những anh hùng như những anh hùng tử sĩ linh thiêng của QL Việt Nam Cộng hoà đã hy sinh vì Tổ Quốc, vì lý tưởng bảo vệ tự do, dân chủ hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam. Nên nhớ dù ở thời đại, chế độ nào, người lính chỉ có nghĩa vụ duy nhất là phụng sự Tồ Quốc, phục vụ dân tộc, không phục vụ tôn sùng bất cứ một lãnh tụ hay một tập đoàn nào dù tài đức siêu việt cách mấy.
Đừng để cho cả thế giới khinh rẻ, toàn thể dân tộc oán hận, thế hệ mai sau nguyền rủa một tập thể quân đội quay lưng bán đứng đất nước, chống lại nhân dân, chỉ để cúc cung tận tuỵ bảo vệ một nhúm người lãnh đạo bán nước hại dân đang tranh ăn giành quyền, đẩy quê hương Việt Nam đến chỗ tàn vong hủy diệt.
Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Người lính Việt Nam Cộng hoà sau bao năm chịu nỗi hàm oan bị lăng mạ vùi dập vẫn là bia đá, thân xác dù có hao mòn, trách nhiệm vì sự sống còn của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân sẽ còn mãi mãi.
Người lính QĐND Việt Nam có muốn cùng người lính Việt Nam Cộng hoà và toàn thể nhân dân Việt Nam là bia đá bảo vệ và xây dựng đất nước hay nhất quyết làm công cụ cho một cái đảng tồi tệ phá hoại đất nước, đàn áp chính đồng bào mình, đang bước vài giai đoạn cuối cùng sự mục rữa để bia miệng của muôn đời con cháu phỉ nhổ cười chê?
Đã có những Trần Độ, Phạm Quế Dương, Trần Dũng Tiến, Trần Anh Kim… đứng lên đi về phía lẽ phải của nhân dân Việt Nam, vậy QĐND Việt Nam còn chần chờ gì nữa?
Phương Duy
Australia, 12/05/2006
Các bài liên quan:
- Nhìn lại QLVNCH 30 năm sau cuộc chiến,Nguyễn Kỳ Phong.
- Sài Gòn 30 năm hổ thẹn,Minh Võ.
- QLVNCH giai đoạn 1968 - 1975 bài I,Bill Laurie, dịch giả Nguyễn Tiến Việt
- QLVNCH giai đoạn 1968 - 1975 bài II,Bill Laurie, dịch giả Nguyễn Tiến Việt
- QLVNCH giai đoạn 1968 - 1975 bài III,Bill Laurie, dịch giả Nguyễn Tiến Việt
- Xoá bỏ hận thù,Vũ Thất
- Vẫn còn đó vết thương cũ, T.Vấn.
- Còn lại gì,Phạm thị Hoài
- Đối thoại với nhà văn Bảo Ninh,Trần Hoài Thư.
- Những lhỏng trống trong lịch sử,Nguyễn Quang Huy.
- Cuộc chiến không ai thắng phần 1,2,3,4,5,Stanley Karnov, dịch giả Hoàng Nguyễn
Trao đổi với Tiêu Dao Bảo Cự.
Phương Duy
Trao đổi để thông cảm, không phải để hận thù
Trao đổi để thông cảm, không phải để hận thù
Khoảng một năm trước đây, tôi đã có dịp đóng góp một số ý kiến với ông Tiêu Dao Bảo Cự khi ông viết trên mạng Đàn Chim Việt online bài “Về một diễn đàn dân chủ”. Sau đó đầu năm nay lại có dịp được đọc toàn bộ tập Tôi bày tỏ của ông, mặc dù ông đã viết tập sách này hơn mười năm trước. Tuyển tập Trên cả hận thù thì tuy chưa được đọc, nhưng qua bài phân tích của Bảo Trâm, một người có liên hệ bà con với ông, tôi cũng có thể gọi là biết qua một chút quan điểm của ông những ngày tháng sau này. Dù có rất nhiều ý bất đồng, tôi vẫn ngưỡng phục ông trong tư cách một người dấn thân cho sự chuyển đổi dân chủ hoá Việt Nam. Từ đó đến nay, tôi vẫn có ý mong ngóng ông trả lời về một số vấn đề còn đang tranh luận. Hôm nay, nhân bài viết “Tỉnh thức, cảng giác nhưng thông cảm và bao dung” trên talawas, tôi xin mạo muội coi đây là một phần những giải đáp của ông. Và như thế, trên cùng một tinh thần đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam bằng các phương tiện hoà bình bất bạo động, đối thoại nhưng không đối đầu, tôi xin được góp thêm một số ý kiến để mong rằng, dù có nhiều đường hướng khác nhau, người Việt Nam chúng ta vẫn có thể chung lưng góp sức xây dựng được một con đường tự do dân chủ cho Việt Nam mau chóng đạt kết quả hơn, hoặc ít nhất chúng ta có thể cùng đồng ý về những bất đồng, có nghĩa rằng, dù khác nhau về tư tưởng và đường lối, những người yêu chuộng độc lập, tự do, dân chủ, hoà bình và phát triển cho Việt Nam vẫn có thể cùng nhau hợp tác ở một vài phương diện.
Tôi xin không bàn luận về quan niệm “chống Mỹ cứu nước” như ông diễn tả: không phải do bị cộng sản tuyên truyền, mà là do những dữ kiện thực tế như cảm thấy nhục nhã cho dân tộc vì chứng kiến cảnh một toán lính Mỹ tắm truồng ngay bờ sông, một bọn Mỹ khác thì say rượu đi chọc ghẹo đàn bà con gái hay lái xe cán chết người hay thậm tệ hơn, bắn giết người bừa bãi như vụ Mỹ Lai (một đám lính vô kỷ luật, thời nào nơi nào chả có, đâu phải chủ trương của một quân đội); sự quyết đoán của ông (qua suy luận) về một người con gái Việt Nam đi làm việc cho một trại giam mới của Mỹ (qua lời đồn của tù) và từ đó trí tưởng tượng của ông hình dung ra những nghiệt ngã của cuộc đời những người con gái bản xứ, khiến lòng tự ái dân tộc trong ông bùng lên thành tư tưởng đấu tranh chống Mỹ; hoặc như trước đây ông từng viết, lòng dũng cảm của một người du kích cộng sản trong tù đã thuyết phục và lôi cuốn ông đến với cộng sản và trở thành đảng viên, cho dù những chuyện như cải cách ruộng đất, vụ án Nhân văn-Giai phẩm, cuộc di cư của gần một triệu người từ Bắc vào Nam mà ông cũng biết nhưng cho là quá xa vời… Đó là những quan niệm riêng của ông ở một thời tuổi trẻ. Mà tuổi trẻ thì ai mà không bồng bột, không lỗi lầm?
Ở đây, tôi xin bàn luận về một số vấn đề có tính cách rộng rãi, tập thể hơn, đó là ý niệm về thể chế Việt Nam Cộng hoà, các chính quyền miền Nam Việt Nam, quân cán chính Việt Nam Cộng hoà, những suy nghĩ và nhận định hiện tại (không phải quá khứ) của những người trí thức phản kháng miền Nam về các tập thể đó. Đưa ra những vấn đề này không phải để phê phán, khơi dậy hận thù như một số người thường ngộ nhận. Chúng ta cần đi vào tranh luận để mọi vấn đề sáng tỏ hơn và chúng ta có thể hiểu nhau hơn. Tranh luận càng sâu, càng nhiều chi tiết được mổ xẻ, đồi thoại càng rõ ràng, con người càng gần nhau hơn, những tồn đọng càng dễ giải quyết, tránh được những nghi kỵ hiểu lầm.
Trước hết, chế độ Việt Nam Cộng hoà và các chính quyền của Việt Nam Cộng hoà là hai thứ hoàn toàn khác biệt mà tôi cho rằng ông Tiêu Dao Bảo Cự cũng như nhiều người khác hiện vẫn còn lẫn lộn. Chế độ hay thể chế, theo tôi, là tinh thần chính trị của một tư tưởng được một quốc gia chấp nhận để tiến đến cái lý tưởng mà quốc gia ấy muốn đạt tới. Sự chấp nhận chế độ như vậy được quy định trong Hiến pháp do Quốc hội Lập hiến soạn thảo và toàn thể nhân dân đồng ý qua một cuộc trưng cầu dân ý. Trong khi đó, chính quyền là một guồng máy được tạo ra từ chế độ với nhiệm vụ thi hành và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, có thể có sự thay đổi nhiều chính quyền trong một chế độ, người ta có thể bảo vệ chế độ mà không bảo vệ chính quyền. Nói khác đi, chế độ có thể vẫn tồn tại trong khi chính quyền bị lật đổ, đó là trường hợp của Việt Nam Cộng hoà trong thời gian chiến tranh.
Hiểu chính quyền và chế độ như thế, chúng ta sẽ thấy rõ chế độ là linh hồn mà chính quyền chỉ là bộ mặt. Bộ mặt có thể thay đổi nhưng linh hồn thì không. Tác giả Trần Trung Đạo, một người viết mà tôi rất gần gũi quan điểm (và ông Tiêu Dao Bảo Cự cũng có nhiều cảm tình), đã viết rõ ràng về điều này trong “Khám nghiệm một hồn ma”. Trần Trung Đạo đã gọi những chính quyền đó là những hồn ma với nhiều nhà lãnh đạo bất tài, thiếu đức, tham nhũng và hưởng thụ trên xương máu của đồng bào mà ông không muốn vực dậy. Tôi cũng thấy không cần thiết phải biện minh cho họ, dù trong đó có người tài đức, đơn giản vì một guồng máy đã cũ, dù tốt đẹp thì sau hơn ba mươi năm ngưng chạy cũng đã lạc hậu, già nua và không còn hợp với xu thế thời đại. Nhưng dù tình trạng tham nhũng, thối nát bất xứng đến độ hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ, với một cái nhìn khách quan, người ta cũng có thể phần nào thông cảm cho cái khó khăn hạn chế của sự ra đời một nền dân chủ non trẻ lúc bấy giờ. Vạn sự khởi đầu nan. Trần Trung Đạo cũng đã nhận định rõ về điều này trong “Những người đi tìm Tổ Quốc”.
Mặc dù các chính quyền miền Nam thì chập chững và non kém trong bước đầu thực thi nền tự do dân chủ thì ít nhất qua bản Hiến pháp 1967, chế độ Việt Nam Cộng hoà, về mặt lý thuyết, tự nó đã khá hoàn chỉnh và tốt đẹp. Các quyền độc lập tự chủ của đất nước, quyền căn bản về tự do dân chủ của người dân, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công dân được xác định khá rõ ràng và trong sáng. Vậy chế độ Việt Nam Cộng hoà ấy có phải là một hồn ma? Theo tôi, chế độ ấy dù đã mất nhưng cái tinh thần và lý tưởng cao đẹp trong bản Hiến pháp của nó vẫn nên được coi là nền tảng cho một nền tự do dân chủ đích thực. Nếu có một sự đồng thuận về tách rời hai khái niệm chế độ và chính quyền, và tham khảo lại bản Hiến pháp 1967, chúng ta có thể thấy, sau khi xoá bỏ điều 4 chương I (cấm đoán sự hoạt động của đảng cộng sản), bản Hiến pháp này là một tài liệu tốt cho việc dự thảo một hiến pháp mới cho một nước Việt Nam theo chiều hướng độc lập, tự do, dân chủ và đa đảng.
Thứ hai, về những người trí thức miền Nam tự nhận là những người phản kháng dấn thân, còn được mệnh danh là những người thiên tả hay thiên cộng: Cho rằng họ hiểu biết không thấu đáo về chủ nghĩa cộng sản; họ chưa có một tầm nhìn lịch sử về sự độc hại của thể chế cộng sản sau này trên đất nước, chưa có quá trình kinh qua bản chất của mỗi chế độ như sau ngày thống nhất để mà so sánh; rằng nếu biết trước là đã góp phần đạp đổ một chế độ tồi tệ để xây dựng một chế độ tồi tệ hơn thì chắc không ai dại dột điên rồ dấn thân vào chốn hiểm nguy đầy bất trắc như họ đã lựa chọn…, thì tôi e rằng lời bào chữa đó không có tính thuyết phục. Khi mặc nhiên tự nhận mình đứng trong hàng ngũ những người trí thức thì nên dùng khối óc suy luận để hướng dẫn cho mọi hành động, chứ không nên hành động chỉ bằng cảm xúc của con tim. Một vài tên lính ngoại quốc làm bậy trên đất nước mình, dù sao đó chỉ là hành vi đơn lẻ cá nhân, vậy mà đã làm máu nóng của người trí thức bùng lên ý thức bài ngoại, trong khi đó phong trào cải cách ruộng đất long trời lở đất dẫn đến chiến dịch đấu tố hãi hùng là một chủ trương, chính sách của cộng sản Việt Nam thì lại cho là xa vời và không thực tế? Chẳng lẽ không cần để ý đến những vụ án như Nhân văn-Giai phẩm, đến cuộc di cư vĩ đại năm 54? Chẳng lẽ đó không phải là những câu trả lời hùng hồn về sự sợ hãi của người dân dưới chế độ cộng sản hay sao? Chẳng lẽ những biến cố to tát như vậy lại không gây ấn tượng gì cho óc suy luận của người trí thức miền Nam?
Tôi đã là một trong gần một triệu người di cư đó, nhưng khi ấy mới là một đứa bé lên ba nên cũng không hiểu biết cặn kẽ giai đoạn lịch sử này. Có điều, qua báo chí sách vở và những trải nghiệm thực tế khi lớn lên, thấy rõ trên 90% những người trốn chạy cộng sản không phải là trí thức, nhưng họ đã nhận rõ bản chất tàn bạo tồi tệ của cộng sản ra sao qua kinh nghiệm trước mắt để mà ghê sợ, để tránh càng xa càng tốt.
Còn cho phong trào phản kháng thiên tả là lãng mạn cách mạng ư? Vào đầu những năm 60, tôi lớn lên ở một vùng đất mang danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”; với tôi Cách Mạng là khi đêm về có những người lạ mặt từ đâu đó xuất hiện trong làng, dùng loa phóng thanh cầm tay để kêu gọi tuyền truyền hằng đêm, dùng sức mạnh vũ khí ép dân đi phá đường đắp mô, giựt sập cầu cống, là những cảnh xe đò bị trúng mìn, chợ búa bị gài lựu đạn, là cảnh người dân vô tội bị thương vong nằm rên xiết, và hãi hùng nhất là cảnh hành hình một người hàng xóm ngay cạnh nhà. Nạn nhân là một viên chức hộ tịch xã, ông này nghĩ đơn giản rằng mình chỉ là một cán bộ hành chánh tầm thường, trong tay không tấc sắt và không hề hà hiếp hãm hại ai. Bởi thế, sau những giờ làm việc ban ngày ở xã, ông về nhà ăn ngủ sinh hoạt bình thường ban đêm. Một buổi tối, cộng sản đem quân đến tận nhà bắt ông đi. Sáng hôm sau người ta tìm thấy xác ông cách nhà non cây số với hai tay bị trói giật cánh khuỷu. Ông đã chết vì bị đánh nát mặt, thân hình thêm hàng chục vết dao đâm, trên ngực còn gắn một mảnh giấy kết án tử hình tội Việt gian. Cái cảnh tượng ấy vẫn còn ám ảnh tôi, một thằng bé hơn mười tuổi, cho mãi đến bây giờ, không hiểu những người trí thức thiên tả miền Nam tìm thấy nét lãng mạn cách mạng trong máu và nước mắt của người dân ở khía cạnh nào?
Có lẽ chủ trương của những đảng phái chính trị và thành phần đối lập với các chính quyền của Việt Nam Cộng hoà mới là tiêu biểu cho tính cách lãng mạn cách mạng này. Sự khác nhau giữa họ và Đảng Cộng sản là ở chỗ họ đấu tranh phản kháng trong ôn hoà, không có lực lượng trang bị vũ khí, chỉ chủ trương giành chính quyền trong phạm vi luật pháp, trong khi cộng sản quyết tâm dùng bạo lực, sự đàn áp và gây rối phá hoại làm những phương tiện đấu tranh. Điều này giải thích tại sao các Hiến pháp của Việt Nam Cộng hoà đã phải đặt Đảng Cộng sản Việt Nam ra ngoài vòng pháp luật. Cũng thế, khi ông Tiêu Dao Bảo Cự và các nhà trí thức thiên cộng cho rằng sở dĩ các chính quyền miền Nam không triệt để đàn áp đối lập không phải vì có ý thức dân chủ cao mà vì không đủ sức mạnh để làm, thì nhận định này chỉ đúng ở vế trên. Các chính quyền Việt Nam Cộng hoà chưa có ý thức dân chủ cao vì nền dân chủ Việt Nam lúc đó còn đang chập chững ở những bước đầu, đất nước vừa mới bước ra khỏi thể chế quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm và một chế độ thực dân tồi tệ không kém, do đó còn đang ở tình trạng vừa thực thi dân chủ vừa học hỏi. Tuy nhiên, chính Hiến pháp và luật pháp trong cái nền dân chủ dẫu non kém này đã ngăn cản chính quyền đàn áp quá thẳng tay các thành phần đối lập. Họ không dám làm một cách lộ liễu, vì bản chất của một chế độ dân chủ không cho phép, chứ không phải do họ không đủ sức mạnh để làm.
Chủ nghĩa cộng sản có lý tưởng cao đẹp nhưng quá xa vời và không thực tế đến nỗi hoang tưởng. Nhưng bi kịch là ở chỗ nó triệt để sử dụng bạo lực để xây dựng và áp đặt một xã hội chuyên chính kiểu xã hội chủ nghĩa, tiêu diệt không khoan nhượng các thành phần giai cấp không phải là vô sản để cướp lấy tất cả mọi thứ kể cả quyền hành. Bi kịch biến thành thảm hoạ khi Đảng Cộng sản nhất quyết giữ độc quyền lãnh đạo không chia sẻ cho ai. Trong số những người quan tâm tới đất nước với rất nhiều khuynh hướng khác nhau, cả ở trong nước lẫn ở hải ngoại, có người mong Đảng Cộng sản Việt Nam giải thể, có người đòi hỏi xoá bỏ độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tinh thần bất bạo động, trong sự thi đua tranh cử công bằng hợp pháp, có nghĩa là Đảng CSVN vẫn tồn tại bên cạnh các đảng phái khác, chưa có ai đòi tiêu diệt hết tất cả các đảng viên cộng sản. Vậy mà những người đấu tranh cho một Việt Nam tự do không cộng sản vẫn luôn bị gán cho cái danh hiệu “chống cộng cực đoan” và “hận thù mù quáng”. Chúng ta hãy nhìn lại quá khứ để thấy rằng không ai trong những người bị mang những danh hiệu như vậy dùng thủ đoạn đê hèn như thanh toán, thủ tiêu để trả thù.
Ông Tiêu Dao Bảo Cự và một số người cho rằng những hậu quả tàn khốc mà dân tộc ta đã và đang gánh chịu chỉ do một nhóm lãnh đạo cộng sản cao cấp có thẩm quyền trong việc hoạch định đường lối, chính sách, còn tất cả những người khác chẳng qua là bị lôi theo dòng cuốn của lịch sử, của chiến tranh; nhưng khi nhắc đến những người trong guồng máy của chế độ Việt Nam Cộng hoà cũ, ông lại phê phán ngược với ý trên. Có thực sự là những quân cán chính miền Nam, những người có lòng quan tâm đến tự do dân chủ cho miền Nam mà không chống lại việc các chính quyền Việt Nam Cộng hoà đàn áp tự do dân chủ là một điều mâu thuẫn? Trước hết, phải nói rõ, quan điểm cho rằng các chính quyền Việt Nam Cộng hoà đàn áp tự do dân chủ chỉ là quan điểm riêng của một thiểu số tự nhận mình là thành phần trí thức, không phải là quan điển của toàn dân miền Nam, nhất là đại đa số quân cán chính. Những dân quân bình thường như chúng tôi thời đó không quan tâm nhiều đến lãnh vực chính trị, không thấy có sự đàn áp nhân dân thô bạo dã man như quý vị diễn tả. Là công dân bình thường trong một chế độ bình thường, chúng tôi hiểu quyền lợi và nhiệm vụ công dân của mình khi tham gia những lực lượng quân cán chính, gồm hàng triệu người phục vụ khắp nơi trên lãnh thổ miền Nam, từ chốn rừng sâu núi cao, địa đầu giới tuyến đến thôn xã làng mạc, mục đích là để bảo vệ quê hương xứ sở và cuộc sống an bình hạnh phúc của người dân chứ không phải chỉ với mục đích bảo vệ chính quyền. Một sự thật không thể chối cãi là trong 20 năm chế độ Việt Nam Cộng hoà tồn tại, các chính quyền cứ liên tục thay đổi, nhưng các lực lượng quân cán chính miền Nam vẫn là một khối đồng nhất cho đến thời điểm 1975. Bàn tay có ngón dài ngón ngắn, bản tính con người có xấu có tốt, các tập thể đó không tránh khỏi một số cá nhân hay dăm ba nhóm nhỏ có hành động gây tội ác, những con sâu làm rầu nồi canh, nhưng đó không phải là những chủ trương chính sách của chế độ miền Nam như các chính sách tàn bạo có chủ trương của chính quyền miền Bắc đã làm. Như thế, không thể nói các lực lượng quân cán chính này phải liên đới chịu trách nhiệm. Chiến tranh là tàn ác, huỷ diệt. Tôi không muốn bào chữa cho tội ác chiến tranh, nhưng là những người tự nhận mình là trí thức, hãy tìm những bằng chứng cụ thể như những vụ Mậu Thân, Cai Lậy của những người cộng sản để chứng minh tội ác của tập thể quân cán chính Việt Nam Cộng hoà trước khi lên án, hay quanh đi quẩn lại cũng chỉ là vụ Mỹ Lai của Mỹ, vụ cá nhân của ông tướng Nguyễn Ngọc Loan… Cũng trong chiều hướng này, xin đặt thêm một câu hỏi với ông Tiêu Dao Bảo Cự trong vị thế một người đang đấu tranh cho dân chủ: hơn 80 triệu người dân Việt Nam không hoặc chưa có biểu hiện nào chống lại chính quyền cộng sản tham nhũng độc tài thối nát hiện nay, như thế nghĩa là họ mặc nhiên chấp nhận và vẫn bảo vệ củng cố chính quyền đó chăng? Ông cho đó là mâu thuẫn không?
Thứ ba, xin được bàn rộng thêm về câu hỏi của ông rằng có cần thiết tiếp tục kéo dài sự hận thù và thế đối đầu Quốc - Cộng theo tinh thần thời chiến tranh không? Trong thời chiến, những người không cộng sản coi mình là thành phần quốc gia để đối lại những người cộng sản, tức những người lấy quốc tế vô sản làm lý tưởng, coi việc xoá bỏ biên giới các quốc gia là nhiệm vụ phải đạt tới. Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã sụp đổ, lý tưởng vô sản hoá toàn cầu không còn nữa. Đảng CSVN chỉ còn là một đảng độc tài chuyên chế, tha hoá dưới vỏ bọc cộng sản. Bối cảnh đấu tranh của những người không cộng sản trong và ngoài nước cũng đã thay đổi, họ không còn thuần tuý là người Việt Quốc gia nữa, mà là người Việt Tự do. Bởi vậy không còn thế đối đầu Quốc - Cộng như trong quá khứ nữa.
Một điều đáng tiếc là, không kể những người quyết tâm bảo vệ chế độ độc tài đảng trị hiện nay bằng mọi giá, chính một số người dấn thân đấu tranh cho tự do dân chủ, công bằng xã hội, cũng vẫn lên tiếng chỉ trích các thành phần cũ của Việt Nam Cộng hoà, đặc biệt các thành phần đang ở hải ngoại có cơ hội nói lên quan điểm của mình, là những người “chống cộng quá khích”, còn “hận thù mù quáng”, điển hình như trong các bài viết trước đây của bà Dương Thu Hương, của ông Tiêu Dao Bảo Cự từ trước tới nay. Xin nói thẳng, nói thật một lần chót, mặc dù chính bản thân và gia đình tôi là nạn nhân trực tiếp của chế độ cộng sản với những mất mát về nhân mạng, tài sản đất đai, tù đày cải tạo, gia đình ly tán, tương lai vô vọng, không phải chỉ cuộc đời mình mà cả đời con đời cháu, nhưng đã từ lâu tôi không còn hận thù những người cộng sản thừa hành đã gây ra những thảm cảnh đó cho cá nhân gia đình tôi nữa. Sự căm thù chỉ dành cho cái chế độ bạo tàn và đám lãnh đạo bảo thủ nhất quyết bám lấy quyền lực của Đảng, củng cố địa vị cá nhân, mặc cho sự tồn vong của đất nước, sự điêu linh của dân tộc.
Không chất chứa sự hận thù, nhìn lại một cách khách quan lịch sử của cuộc chiến 20 năm của hai miền mà tôi đã từng là người trong cuộc, tạ ơn trời đất đã cho mình trở về nguyên vẹn sau cuộc chiến, tôi thấy mình cần phải cúi đầu kính cẩn tiếc thương những anh hùng liệt sĩ ở cả hai phía. Tôi tỏ lòng kính trọng biết ơn đứa em trai, bạn bè, các anh linh tử sĩ Việt Nam Cộng hoà đã nằm xuống cho tôi sống sót trở về. Tôi thông cảm và ngưỡng mộ những anh em đã ra đi ở phía bên kia, dù chúng ta từng là địch thủ, từng mang vũ khí cố tiêu diệt nhau. Cái chết nào cho Tổ quốc cũng đáng khâm phục, dù rằng chúng ta đã hiểu Tổ quốc theo những ý nghĩa khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Trong khi tôi tuyên dương các anh hùng miền Nam vị quốc vong thân: Lê Văn Đương, Đặng Đình Bảo, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Bá, Hoàng Cơ Minh… đã hy sinh vì một Việt Nam tự do, thì cũng không quên cảm phục tinh thần của những anh Thạc, chị Trâm, những người khác chiến tuyến với đầy ắp niềm tự hào về lý tưởng cộng sản làm hành trang trên con đường xâm nhập vào miền Nam, một lý tưởng mà tôi cho là ngây thơ khờ khạo vì bị bưng bít tuyên truyền, với niềm ước mơ tưởng là giải phóng miền Nam khỏi sự kềm kẹp của đế quốc, mà thực ra là phá rối sự an lành ổn định của người dân miền Nam. Dù sao, họ cũng đã chết cho cái lý tưởng của họ. Họ cũng phải được tưởng nhớ là những người đã hy sinh cho Tổ quốc. Và không một người có nhân cách nào lại đi hận thù những người hy sinh cho Tổ quốc.
Tôi tôn trọng những người đã một thời hiến mình cho chủ nghĩa cộng sản với một lý tưởng trong sáng, nhưng khi nhìn rõ thực tế về sự tác hại, không tưởng của nó đã sẵn sàng chấp nhận lầm lạc của mình, công khai hay lặng lẽ thoát ra khỏi ảnh hưởng của nó và dũng cảm phê phán những biến chất, sai trái lừa bịp của nó. Đối với những người một thời bị mê hoặc vì lý tưởng ấy, nay cảm thấy bị phản bội, bẽ bàng ray rứt, nhưng đành nhắm mắt đưa chân, xuôi theo dòng chảy, bỏ mặc vận nước xoay vần nổi trôi, tôi chỉ xin có một lời trách cứ nho nhỏ và sự thông cảm mà không hận thù, bởi những hèn yếu cá nhân và ràng buộc của gia đình là chung của con người, ai mà không trải nghiệm. Tuy thế, tôi vẫn ước mong họ có lại được cái hào khí thuở nào để trở lại đóng góp cho tiến trình dân chủ hoá đất nước đang ngày một dâng cao. Đối với những người tự nhận là sĩ phu trí thức, nhìn thấy rõ sự gian trá tồi tệ mà Đảng Cộng sản đã gây ra cho Tổ quốc nhưng vẫn tự hào ở trong hàng ngũ của phe chiến thắng, nắm quyền lực trong tay với những đặc quyền đặc lợi mà quên đi lý tưởng ngày trước, quay lại hà hiếp nhân dân, đàn áp những người bạn vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ cho đồng bào, không hề có lý tưởng mà chẳng qua chỉ là một bọn cơ hội giả hình, thì thái độ của tôi không phải là hận thù mà là khinh chê nhạo báng.
Riêng với ông Tiêu Dao Bảo Cự và những trí thức miền Nam đã có cơ hội sống để so sánh giữa hai chế độ rồi cuối cùng có được một kết luận rằng mình đã góp phần đạp đổ một chế độ tồi tệ để xây dựng nên một chế độ còn tồi tệ hơn, và vì thế lại tiếp tục con đường đòi hỏi dân chủ hoá đất nước, tôi xin tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ tinh thần phục thiện đó. Tiếc rằng, ông Tiêu Dao Bảo Cự đã cố lý luận để biện minh cho một thời bồng bột của những trí thức miền Nam như ông, như một lời nhắn nhủ rằng nếu phải làm lại từ đầu, ông cũng vẫn làm y như cũ.
Về lời trách “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” mà ông cho là thứ ngôn ngữ mạt sát, xin bình tâm suy xét lại, lời trách ấy dù làm tổn thương mấy cũng đâu thể so sánh với đau thương tan nát mà dân tộc đã phải gánh chịu vì cái lý tưởng đặt không đúng chỗ của các ông. Vả lại, chính những người trí thức miền Nam các ông đã hưởng thụ nhiều nhất bổng lộc của các chính quyền miền Nam mà các ông thường kết án là được ngoại bang nuôi dưỡng, viện trợ, để làm tay sai. Biện minh rằng các bổng lộc đó là sự đóng góp của nhân dân là rất nực cười và phi lý. Miền Nam thời chiến tranh, ruộng đồng bỏ hoang, kinh tế trì trệ không đủ sức nuôi dân, ngay hạt gạo cơ bản của người dân cũng phải nhập từ nước ngoài, mọi kinh phí chiến tranh, kể cả lương bổng cho công nhân viên chức đều trông chờ vào ngoại bang, thu nhập thuế má từ dân chúng coi như số không, vậy mà có những người cứ xin cấp học bổng đi nước ngoài, cứ tháng tháng lãnh lương của một viên chức Việt Nam Cộng hoà rồi quay lại chống phá và hoạt động tiếp tay cho phía bên kia, xin gọi là hành động gì? Lời trách cứ trên dù có nặng nề, cũng đâu có quá oan khiên, phải không? Các ông có thấy mâu thuẫn khi lý luận rằng mình ăn cơm của nhân dân chứ không phải của quốc gia nào cả, nên chẳng có gì phải hối hận hay mặc cảm? Hay nhắc nhở như thế là mạt sát, là còn nuôi dưỡng hận thù? Sự thực nhiều khi đau lòng, nhưng khi uất ức trong lòng được phát ra, nỗi đau cũng được giải toả, dù mất mát thì chẳng bao giờ lấy lại được.
Thế hệ của chúng tôi, ở cả hai miền Nam Bắc, là một thế hệ bất hạnh. Thế hệ của sự mất mát, sinh ly tử biệt. Ra đời và lớn lên trong thời kỳ khói lửa tương tàn, trưởng thành vào đúng giai đoạn tàn khốc nhất của cuộc chiến, người thanh niên không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải hoà nhập vào chiến tranh, có người vì lý tưởng bên này hoặc bên kia, nhiều người khác đơn giản chỉ đi làm nhiệm vụ một công dân. Cuộc huynh đệ tương tàn ấy là thảm kịch đáng nguyền rủa nhất trong lịch sử nước nhà. Chúng tôi đã không có cơ hội được đi trọn con đường học vấn giáo dục để tạo dựng một nghề nghiệp vững chắc cho mình và đóng góp xây dựng đất nước. Bị tung vào cuộc chiến, săn lùng tiêu diệt nhau bạo tàn hơn thú dữ, lớp lớp người thay nhau ngã xuống, mộ phần rải khắp nẻo quê hương, biết bao kẻ đến nay còn biệt tích không cả một nấm mồ. Nhiều người sống sót trở về cũng đã để lại một phần thân thể, sống một kiếp tật nguyền tàn tạ. Một số bị trả thù, trù dập dã man trong các nhà tù, cải tạo. Có những người như tôi, may mắn vượt thoát đến những vùng trời mới, hít thở không khí tự do, nhưng đa số còn ở lại vẫn đang chịu sự nghiệt ngã của cảnh “rau răm ở lại chịu lời đắng cay”.
Đúng như ông Tiêu Dao Bảo Cự nói, mọi người Việt Nam cần sám hối, vì hầu như ai cũng dự phần vào cái bi kịch đau thương của Việt Nam ngày nay. Tuy nhiên, sự sám hối của mỗi người mỗi khác. Tôi sám hối không phải vì đã tham dự vào guồng máy chiến tranh trong quá khứ, mà vì trong quá khứ ấy tôi đã không làm tròn trách nhiệm của một công dân, cũng như không làm đầy đủ nhiệm vụ một người chiến đấu bảo vệ tự do, vì sự thiếu trách nhiệm ấy đã để xảy ra biến cố đau thương 1975, đưa đến thảm hoạ cho Tổ Quốc và dân tộc hiện nay.
Tóm lại, trong tinh thần đối thoại để tìm hiểu và thông cảm, mọi vấn đề, mọi sự kiện của bối cảnh lịch sử cần được nhìn dưới nhiều góc cạnh, nhiều lăng kính để tìm ra sự thực. Đó không phải là những lời phê phán chỉ trích có tính cách bêu xấu mạ lỵ. 60% người Việt hiện tại sinh ra sau những biến cố lịch sử đó, họ cần biết sự thật. Sự thật vẫn chưa thể có, khi mà ở trong nước chưa có tự do ngôn luận, các phương tiện truyền thông báo chí vẫn chỉ là công cụ tuyên truyền một chiều của Đảng. Tiếng nói của người dân trong nước, đặc biệt của những người trong chế độ miền Nam cũ cho đến nay vẫn còn câm nín, họ vẫn đang bi bịt miệng, thì tiếng nói ngoài nước, trong thời đại thông tin toàn cầu, cần là một lực đối trọng cho việc đưa sự thực ra ánh sáng. Qua đó, giới trẻ Việt Nam có sự đối chiếu trong ngoài, qua nghiên cứu tài liệu sách vở và bằng lý luận khôn ngoan có thể hiểu rõ và viết lại những trang sử trung thực hơn. Quá khứ dù đau xót tủi nhục cũng vẫn là một phần lịch sử, một phần máu thịt của quê hương. Mọi mổ xẻ để tìm ra sự thực về một quá khứ lịch sử đều đau đớn và vật vã, nhưng là cần thiết để cắt đi những ung nhọt của xung đột tư tưởng, để giảm thiểu những tự tôn và tự ti đáng lẽ không nên có, để hạn chế những hiểu lầm vụn vặt dẫn đến việc mạ lỵ vu khống lẫn nhau.
Nếu ông Tiêu Dao Bảo Cự và những trí thức miền Nam có cùng quan điểm đối thoại với tôi, chúng ta có thể cùng chấp nhận những lý luận của ông và của những người có cái nhìn tương tự như tôi, không phải hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai, mà có đúng sai lẫn lộn. Nhưng nhờ đối thoại, ít ra mỗi ngày quan điểm của hai bên càng tiến gần nhau hơn và con đường tới dân chủ hoá Việt Nam có chiều hướng tích cực hơn.
Mong quí vị thông cảm cho những suy nghĩ lòng vòng dông dài của tôi và cố hiểu được trong đó những thành tâm thiện ý.
Australia, 23/09/2006
Đề tài liên quan
- Tôi bày tỏ, Tiêu Dao Bảo Cự
- Vài ý kiến về tập truyện "trên cả hận thù" của TDBC, Bảo Trân
- Về một diễn đàn dân chủ , Tiêu Dao Bảo Cự
Tôi xin không bàn luận về quan niệm “chống Mỹ cứu nước” như ông diễn tả: không phải do bị cộng sản tuyên truyền, mà là do những dữ kiện thực tế như cảm thấy nhục nhã cho dân tộc vì chứng kiến cảnh một toán lính Mỹ tắm truồng ngay bờ sông, một bọn Mỹ khác thì say rượu đi chọc ghẹo đàn bà con gái hay lái xe cán chết người hay thậm tệ hơn, bắn giết người bừa bãi như vụ Mỹ Lai (một đám lính vô kỷ luật, thời nào nơi nào chả có, đâu phải chủ trương của một quân đội); sự quyết đoán của ông (qua suy luận) về một người con gái Việt Nam đi làm việc cho một trại giam mới của Mỹ (qua lời đồn của tù) và từ đó trí tưởng tượng của ông hình dung ra những nghiệt ngã của cuộc đời những người con gái bản xứ, khiến lòng tự ái dân tộc trong ông bùng lên thành tư tưởng đấu tranh chống Mỹ; hoặc như trước đây ông từng viết, lòng dũng cảm của một người du kích cộng sản trong tù đã thuyết phục và lôi cuốn ông đến với cộng sản và trở thành đảng viên, cho dù những chuyện như cải cách ruộng đất, vụ án Nhân văn-Giai phẩm, cuộc di cư của gần một triệu người từ Bắc vào Nam mà ông cũng biết nhưng cho là quá xa vời… Đó là những quan niệm riêng của ông ở một thời tuổi trẻ. Mà tuổi trẻ thì ai mà không bồng bột, không lỗi lầm?
Ở đây, tôi xin bàn luận về một số vấn đề có tính cách rộng rãi, tập thể hơn, đó là ý niệm về thể chế Việt Nam Cộng hoà, các chính quyền miền Nam Việt Nam, quân cán chính Việt Nam Cộng hoà, những suy nghĩ và nhận định hiện tại (không phải quá khứ) của những người trí thức phản kháng miền Nam về các tập thể đó. Đưa ra những vấn đề này không phải để phê phán, khơi dậy hận thù như một số người thường ngộ nhận. Chúng ta cần đi vào tranh luận để mọi vấn đề sáng tỏ hơn và chúng ta có thể hiểu nhau hơn. Tranh luận càng sâu, càng nhiều chi tiết được mổ xẻ, đồi thoại càng rõ ràng, con người càng gần nhau hơn, những tồn đọng càng dễ giải quyết, tránh được những nghi kỵ hiểu lầm.
Trước hết, chế độ Việt Nam Cộng hoà và các chính quyền của Việt Nam Cộng hoà là hai thứ hoàn toàn khác biệt mà tôi cho rằng ông Tiêu Dao Bảo Cự cũng như nhiều người khác hiện vẫn còn lẫn lộn. Chế độ hay thể chế, theo tôi, là tinh thần chính trị của một tư tưởng được một quốc gia chấp nhận để tiến đến cái lý tưởng mà quốc gia ấy muốn đạt tới. Sự chấp nhận chế độ như vậy được quy định trong Hiến pháp do Quốc hội Lập hiến soạn thảo và toàn thể nhân dân đồng ý qua một cuộc trưng cầu dân ý. Trong khi đó, chính quyền là một guồng máy được tạo ra từ chế độ với nhiệm vụ thi hành và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, có thể có sự thay đổi nhiều chính quyền trong một chế độ, người ta có thể bảo vệ chế độ mà không bảo vệ chính quyền. Nói khác đi, chế độ có thể vẫn tồn tại trong khi chính quyền bị lật đổ, đó là trường hợp của Việt Nam Cộng hoà trong thời gian chiến tranh.
Hiểu chính quyền và chế độ như thế, chúng ta sẽ thấy rõ chế độ là linh hồn mà chính quyền chỉ là bộ mặt. Bộ mặt có thể thay đổi nhưng linh hồn thì không. Tác giả Trần Trung Đạo, một người viết mà tôi rất gần gũi quan điểm (và ông Tiêu Dao Bảo Cự cũng có nhiều cảm tình), đã viết rõ ràng về điều này trong “Khám nghiệm một hồn ma”. Trần Trung Đạo đã gọi những chính quyền đó là những hồn ma với nhiều nhà lãnh đạo bất tài, thiếu đức, tham nhũng và hưởng thụ trên xương máu của đồng bào mà ông không muốn vực dậy. Tôi cũng thấy không cần thiết phải biện minh cho họ, dù trong đó có người tài đức, đơn giản vì một guồng máy đã cũ, dù tốt đẹp thì sau hơn ba mươi năm ngưng chạy cũng đã lạc hậu, già nua và không còn hợp với xu thế thời đại. Nhưng dù tình trạng tham nhũng, thối nát bất xứng đến độ hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ, với một cái nhìn khách quan, người ta cũng có thể phần nào thông cảm cho cái khó khăn hạn chế của sự ra đời một nền dân chủ non trẻ lúc bấy giờ. Vạn sự khởi đầu nan. Trần Trung Đạo cũng đã nhận định rõ về điều này trong “Những người đi tìm Tổ Quốc”.
Mặc dù các chính quyền miền Nam thì chập chững và non kém trong bước đầu thực thi nền tự do dân chủ thì ít nhất qua bản Hiến pháp 1967, chế độ Việt Nam Cộng hoà, về mặt lý thuyết, tự nó đã khá hoàn chỉnh và tốt đẹp. Các quyền độc lập tự chủ của đất nước, quyền căn bản về tự do dân chủ của người dân, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công dân được xác định khá rõ ràng và trong sáng. Vậy chế độ Việt Nam Cộng hoà ấy có phải là một hồn ma? Theo tôi, chế độ ấy dù đã mất nhưng cái tinh thần và lý tưởng cao đẹp trong bản Hiến pháp của nó vẫn nên được coi là nền tảng cho một nền tự do dân chủ đích thực. Nếu có một sự đồng thuận về tách rời hai khái niệm chế độ và chính quyền, và tham khảo lại bản Hiến pháp 1967, chúng ta có thể thấy, sau khi xoá bỏ điều 4 chương I (cấm đoán sự hoạt động của đảng cộng sản), bản Hiến pháp này là một tài liệu tốt cho việc dự thảo một hiến pháp mới cho một nước Việt Nam theo chiều hướng độc lập, tự do, dân chủ và đa đảng.
Thứ hai, về những người trí thức miền Nam tự nhận là những người phản kháng dấn thân, còn được mệnh danh là những người thiên tả hay thiên cộng: Cho rằng họ hiểu biết không thấu đáo về chủ nghĩa cộng sản; họ chưa có một tầm nhìn lịch sử về sự độc hại của thể chế cộng sản sau này trên đất nước, chưa có quá trình kinh qua bản chất của mỗi chế độ như sau ngày thống nhất để mà so sánh; rằng nếu biết trước là đã góp phần đạp đổ một chế độ tồi tệ để xây dựng một chế độ tồi tệ hơn thì chắc không ai dại dột điên rồ dấn thân vào chốn hiểm nguy đầy bất trắc như họ đã lựa chọn…, thì tôi e rằng lời bào chữa đó không có tính thuyết phục. Khi mặc nhiên tự nhận mình đứng trong hàng ngũ những người trí thức thì nên dùng khối óc suy luận để hướng dẫn cho mọi hành động, chứ không nên hành động chỉ bằng cảm xúc của con tim. Một vài tên lính ngoại quốc làm bậy trên đất nước mình, dù sao đó chỉ là hành vi đơn lẻ cá nhân, vậy mà đã làm máu nóng của người trí thức bùng lên ý thức bài ngoại, trong khi đó phong trào cải cách ruộng đất long trời lở đất dẫn đến chiến dịch đấu tố hãi hùng là một chủ trương, chính sách của cộng sản Việt Nam thì lại cho là xa vời và không thực tế? Chẳng lẽ không cần để ý đến những vụ án như Nhân văn-Giai phẩm, đến cuộc di cư vĩ đại năm 54? Chẳng lẽ đó không phải là những câu trả lời hùng hồn về sự sợ hãi của người dân dưới chế độ cộng sản hay sao? Chẳng lẽ những biến cố to tát như vậy lại không gây ấn tượng gì cho óc suy luận của người trí thức miền Nam?
Tôi đã là một trong gần một triệu người di cư đó, nhưng khi ấy mới là một đứa bé lên ba nên cũng không hiểu biết cặn kẽ giai đoạn lịch sử này. Có điều, qua báo chí sách vở và những trải nghiệm thực tế khi lớn lên, thấy rõ trên 90% những người trốn chạy cộng sản không phải là trí thức, nhưng họ đã nhận rõ bản chất tàn bạo tồi tệ của cộng sản ra sao qua kinh nghiệm trước mắt để mà ghê sợ, để tránh càng xa càng tốt.
Còn cho phong trào phản kháng thiên tả là lãng mạn cách mạng ư? Vào đầu những năm 60, tôi lớn lên ở một vùng đất mang danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”; với tôi Cách Mạng là khi đêm về có những người lạ mặt từ đâu đó xuất hiện trong làng, dùng loa phóng thanh cầm tay để kêu gọi tuyền truyền hằng đêm, dùng sức mạnh vũ khí ép dân đi phá đường đắp mô, giựt sập cầu cống, là những cảnh xe đò bị trúng mìn, chợ búa bị gài lựu đạn, là cảnh người dân vô tội bị thương vong nằm rên xiết, và hãi hùng nhất là cảnh hành hình một người hàng xóm ngay cạnh nhà. Nạn nhân là một viên chức hộ tịch xã, ông này nghĩ đơn giản rằng mình chỉ là một cán bộ hành chánh tầm thường, trong tay không tấc sắt và không hề hà hiếp hãm hại ai. Bởi thế, sau những giờ làm việc ban ngày ở xã, ông về nhà ăn ngủ sinh hoạt bình thường ban đêm. Một buổi tối, cộng sản đem quân đến tận nhà bắt ông đi. Sáng hôm sau người ta tìm thấy xác ông cách nhà non cây số với hai tay bị trói giật cánh khuỷu. Ông đã chết vì bị đánh nát mặt, thân hình thêm hàng chục vết dao đâm, trên ngực còn gắn một mảnh giấy kết án tử hình tội Việt gian. Cái cảnh tượng ấy vẫn còn ám ảnh tôi, một thằng bé hơn mười tuổi, cho mãi đến bây giờ, không hiểu những người trí thức thiên tả miền Nam tìm thấy nét lãng mạn cách mạng trong máu và nước mắt của người dân ở khía cạnh nào?
Có lẽ chủ trương của những đảng phái chính trị và thành phần đối lập với các chính quyền của Việt Nam Cộng hoà mới là tiêu biểu cho tính cách lãng mạn cách mạng này. Sự khác nhau giữa họ và Đảng Cộng sản là ở chỗ họ đấu tranh phản kháng trong ôn hoà, không có lực lượng trang bị vũ khí, chỉ chủ trương giành chính quyền trong phạm vi luật pháp, trong khi cộng sản quyết tâm dùng bạo lực, sự đàn áp và gây rối phá hoại làm những phương tiện đấu tranh. Điều này giải thích tại sao các Hiến pháp của Việt Nam Cộng hoà đã phải đặt Đảng Cộng sản Việt Nam ra ngoài vòng pháp luật. Cũng thế, khi ông Tiêu Dao Bảo Cự và các nhà trí thức thiên cộng cho rằng sở dĩ các chính quyền miền Nam không triệt để đàn áp đối lập không phải vì có ý thức dân chủ cao mà vì không đủ sức mạnh để làm, thì nhận định này chỉ đúng ở vế trên. Các chính quyền Việt Nam Cộng hoà chưa có ý thức dân chủ cao vì nền dân chủ Việt Nam lúc đó còn đang chập chững ở những bước đầu, đất nước vừa mới bước ra khỏi thể chế quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm và một chế độ thực dân tồi tệ không kém, do đó còn đang ở tình trạng vừa thực thi dân chủ vừa học hỏi. Tuy nhiên, chính Hiến pháp và luật pháp trong cái nền dân chủ dẫu non kém này đã ngăn cản chính quyền đàn áp quá thẳng tay các thành phần đối lập. Họ không dám làm một cách lộ liễu, vì bản chất của một chế độ dân chủ không cho phép, chứ không phải do họ không đủ sức mạnh để làm.
Chủ nghĩa cộng sản có lý tưởng cao đẹp nhưng quá xa vời và không thực tế đến nỗi hoang tưởng. Nhưng bi kịch là ở chỗ nó triệt để sử dụng bạo lực để xây dựng và áp đặt một xã hội chuyên chính kiểu xã hội chủ nghĩa, tiêu diệt không khoan nhượng các thành phần giai cấp không phải là vô sản để cướp lấy tất cả mọi thứ kể cả quyền hành. Bi kịch biến thành thảm hoạ khi Đảng Cộng sản nhất quyết giữ độc quyền lãnh đạo không chia sẻ cho ai. Trong số những người quan tâm tới đất nước với rất nhiều khuynh hướng khác nhau, cả ở trong nước lẫn ở hải ngoại, có người mong Đảng Cộng sản Việt Nam giải thể, có người đòi hỏi xoá bỏ độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tinh thần bất bạo động, trong sự thi đua tranh cử công bằng hợp pháp, có nghĩa là Đảng CSVN vẫn tồn tại bên cạnh các đảng phái khác, chưa có ai đòi tiêu diệt hết tất cả các đảng viên cộng sản. Vậy mà những người đấu tranh cho một Việt Nam tự do không cộng sản vẫn luôn bị gán cho cái danh hiệu “chống cộng cực đoan” và “hận thù mù quáng”. Chúng ta hãy nhìn lại quá khứ để thấy rằng không ai trong những người bị mang những danh hiệu như vậy dùng thủ đoạn đê hèn như thanh toán, thủ tiêu để trả thù.
Ông Tiêu Dao Bảo Cự và một số người cho rằng những hậu quả tàn khốc mà dân tộc ta đã và đang gánh chịu chỉ do một nhóm lãnh đạo cộng sản cao cấp có thẩm quyền trong việc hoạch định đường lối, chính sách, còn tất cả những người khác chẳng qua là bị lôi theo dòng cuốn của lịch sử, của chiến tranh; nhưng khi nhắc đến những người trong guồng máy của chế độ Việt Nam Cộng hoà cũ, ông lại phê phán ngược với ý trên. Có thực sự là những quân cán chính miền Nam, những người có lòng quan tâm đến tự do dân chủ cho miền Nam mà không chống lại việc các chính quyền Việt Nam Cộng hoà đàn áp tự do dân chủ là một điều mâu thuẫn? Trước hết, phải nói rõ, quan điểm cho rằng các chính quyền Việt Nam Cộng hoà đàn áp tự do dân chủ chỉ là quan điểm riêng của một thiểu số tự nhận mình là thành phần trí thức, không phải là quan điển của toàn dân miền Nam, nhất là đại đa số quân cán chính. Những dân quân bình thường như chúng tôi thời đó không quan tâm nhiều đến lãnh vực chính trị, không thấy có sự đàn áp nhân dân thô bạo dã man như quý vị diễn tả. Là công dân bình thường trong một chế độ bình thường, chúng tôi hiểu quyền lợi và nhiệm vụ công dân của mình khi tham gia những lực lượng quân cán chính, gồm hàng triệu người phục vụ khắp nơi trên lãnh thổ miền Nam, từ chốn rừng sâu núi cao, địa đầu giới tuyến đến thôn xã làng mạc, mục đích là để bảo vệ quê hương xứ sở và cuộc sống an bình hạnh phúc của người dân chứ không phải chỉ với mục đích bảo vệ chính quyền. Một sự thật không thể chối cãi là trong 20 năm chế độ Việt Nam Cộng hoà tồn tại, các chính quyền cứ liên tục thay đổi, nhưng các lực lượng quân cán chính miền Nam vẫn là một khối đồng nhất cho đến thời điểm 1975. Bàn tay có ngón dài ngón ngắn, bản tính con người có xấu có tốt, các tập thể đó không tránh khỏi một số cá nhân hay dăm ba nhóm nhỏ có hành động gây tội ác, những con sâu làm rầu nồi canh, nhưng đó không phải là những chủ trương chính sách của chế độ miền Nam như các chính sách tàn bạo có chủ trương của chính quyền miền Bắc đã làm. Như thế, không thể nói các lực lượng quân cán chính này phải liên đới chịu trách nhiệm. Chiến tranh là tàn ác, huỷ diệt. Tôi không muốn bào chữa cho tội ác chiến tranh, nhưng là những người tự nhận mình là trí thức, hãy tìm những bằng chứng cụ thể như những vụ Mậu Thân, Cai Lậy của những người cộng sản để chứng minh tội ác của tập thể quân cán chính Việt Nam Cộng hoà trước khi lên án, hay quanh đi quẩn lại cũng chỉ là vụ Mỹ Lai của Mỹ, vụ cá nhân của ông tướng Nguyễn Ngọc Loan… Cũng trong chiều hướng này, xin đặt thêm một câu hỏi với ông Tiêu Dao Bảo Cự trong vị thế một người đang đấu tranh cho dân chủ: hơn 80 triệu người dân Việt Nam không hoặc chưa có biểu hiện nào chống lại chính quyền cộng sản tham nhũng độc tài thối nát hiện nay, như thế nghĩa là họ mặc nhiên chấp nhận và vẫn bảo vệ củng cố chính quyền đó chăng? Ông cho đó là mâu thuẫn không?
Thứ ba, xin được bàn rộng thêm về câu hỏi của ông rằng có cần thiết tiếp tục kéo dài sự hận thù và thế đối đầu Quốc - Cộng theo tinh thần thời chiến tranh không? Trong thời chiến, những người không cộng sản coi mình là thành phần quốc gia để đối lại những người cộng sản, tức những người lấy quốc tế vô sản làm lý tưởng, coi việc xoá bỏ biên giới các quốc gia là nhiệm vụ phải đạt tới. Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã sụp đổ, lý tưởng vô sản hoá toàn cầu không còn nữa. Đảng CSVN chỉ còn là một đảng độc tài chuyên chế, tha hoá dưới vỏ bọc cộng sản. Bối cảnh đấu tranh của những người không cộng sản trong và ngoài nước cũng đã thay đổi, họ không còn thuần tuý là người Việt Quốc gia nữa, mà là người Việt Tự do. Bởi vậy không còn thế đối đầu Quốc - Cộng như trong quá khứ nữa.
Một điều đáng tiếc là, không kể những người quyết tâm bảo vệ chế độ độc tài đảng trị hiện nay bằng mọi giá, chính một số người dấn thân đấu tranh cho tự do dân chủ, công bằng xã hội, cũng vẫn lên tiếng chỉ trích các thành phần cũ của Việt Nam Cộng hoà, đặc biệt các thành phần đang ở hải ngoại có cơ hội nói lên quan điểm của mình, là những người “chống cộng quá khích”, còn “hận thù mù quáng”, điển hình như trong các bài viết trước đây của bà Dương Thu Hương, của ông Tiêu Dao Bảo Cự từ trước tới nay. Xin nói thẳng, nói thật một lần chót, mặc dù chính bản thân và gia đình tôi là nạn nhân trực tiếp của chế độ cộng sản với những mất mát về nhân mạng, tài sản đất đai, tù đày cải tạo, gia đình ly tán, tương lai vô vọng, không phải chỉ cuộc đời mình mà cả đời con đời cháu, nhưng đã từ lâu tôi không còn hận thù những người cộng sản thừa hành đã gây ra những thảm cảnh đó cho cá nhân gia đình tôi nữa. Sự căm thù chỉ dành cho cái chế độ bạo tàn và đám lãnh đạo bảo thủ nhất quyết bám lấy quyền lực của Đảng, củng cố địa vị cá nhân, mặc cho sự tồn vong của đất nước, sự điêu linh của dân tộc.
Không chất chứa sự hận thù, nhìn lại một cách khách quan lịch sử của cuộc chiến 20 năm của hai miền mà tôi đã từng là người trong cuộc, tạ ơn trời đất đã cho mình trở về nguyên vẹn sau cuộc chiến, tôi thấy mình cần phải cúi đầu kính cẩn tiếc thương những anh hùng liệt sĩ ở cả hai phía. Tôi tỏ lòng kính trọng biết ơn đứa em trai, bạn bè, các anh linh tử sĩ Việt Nam Cộng hoà đã nằm xuống cho tôi sống sót trở về. Tôi thông cảm và ngưỡng mộ những anh em đã ra đi ở phía bên kia, dù chúng ta từng là địch thủ, từng mang vũ khí cố tiêu diệt nhau. Cái chết nào cho Tổ quốc cũng đáng khâm phục, dù rằng chúng ta đã hiểu Tổ quốc theo những ý nghĩa khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Trong khi tôi tuyên dương các anh hùng miền Nam vị quốc vong thân: Lê Văn Đương, Đặng Đình Bảo, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Bá, Hoàng Cơ Minh… đã hy sinh vì một Việt Nam tự do, thì cũng không quên cảm phục tinh thần của những anh Thạc, chị Trâm, những người khác chiến tuyến với đầy ắp niềm tự hào về lý tưởng cộng sản làm hành trang trên con đường xâm nhập vào miền Nam, một lý tưởng mà tôi cho là ngây thơ khờ khạo vì bị bưng bít tuyên truyền, với niềm ước mơ tưởng là giải phóng miền Nam khỏi sự kềm kẹp của đế quốc, mà thực ra là phá rối sự an lành ổn định của người dân miền Nam. Dù sao, họ cũng đã chết cho cái lý tưởng của họ. Họ cũng phải được tưởng nhớ là những người đã hy sinh cho Tổ quốc. Và không một người có nhân cách nào lại đi hận thù những người hy sinh cho Tổ quốc.
Tôi tôn trọng những người đã một thời hiến mình cho chủ nghĩa cộng sản với một lý tưởng trong sáng, nhưng khi nhìn rõ thực tế về sự tác hại, không tưởng của nó đã sẵn sàng chấp nhận lầm lạc của mình, công khai hay lặng lẽ thoát ra khỏi ảnh hưởng của nó và dũng cảm phê phán những biến chất, sai trái lừa bịp của nó. Đối với những người một thời bị mê hoặc vì lý tưởng ấy, nay cảm thấy bị phản bội, bẽ bàng ray rứt, nhưng đành nhắm mắt đưa chân, xuôi theo dòng chảy, bỏ mặc vận nước xoay vần nổi trôi, tôi chỉ xin có một lời trách cứ nho nhỏ và sự thông cảm mà không hận thù, bởi những hèn yếu cá nhân và ràng buộc của gia đình là chung của con người, ai mà không trải nghiệm. Tuy thế, tôi vẫn ước mong họ có lại được cái hào khí thuở nào để trở lại đóng góp cho tiến trình dân chủ hoá đất nước đang ngày một dâng cao. Đối với những người tự nhận là sĩ phu trí thức, nhìn thấy rõ sự gian trá tồi tệ mà Đảng Cộng sản đã gây ra cho Tổ quốc nhưng vẫn tự hào ở trong hàng ngũ của phe chiến thắng, nắm quyền lực trong tay với những đặc quyền đặc lợi mà quên đi lý tưởng ngày trước, quay lại hà hiếp nhân dân, đàn áp những người bạn vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ cho đồng bào, không hề có lý tưởng mà chẳng qua chỉ là một bọn cơ hội giả hình, thì thái độ của tôi không phải là hận thù mà là khinh chê nhạo báng.
Riêng với ông Tiêu Dao Bảo Cự và những trí thức miền Nam đã có cơ hội sống để so sánh giữa hai chế độ rồi cuối cùng có được một kết luận rằng mình đã góp phần đạp đổ một chế độ tồi tệ để xây dựng nên một chế độ còn tồi tệ hơn, và vì thế lại tiếp tục con đường đòi hỏi dân chủ hoá đất nước, tôi xin tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ tinh thần phục thiện đó. Tiếc rằng, ông Tiêu Dao Bảo Cự đã cố lý luận để biện minh cho một thời bồng bột của những trí thức miền Nam như ông, như một lời nhắn nhủ rằng nếu phải làm lại từ đầu, ông cũng vẫn làm y như cũ.
Về lời trách “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” mà ông cho là thứ ngôn ngữ mạt sát, xin bình tâm suy xét lại, lời trách ấy dù làm tổn thương mấy cũng đâu thể so sánh với đau thương tan nát mà dân tộc đã phải gánh chịu vì cái lý tưởng đặt không đúng chỗ của các ông. Vả lại, chính những người trí thức miền Nam các ông đã hưởng thụ nhiều nhất bổng lộc của các chính quyền miền Nam mà các ông thường kết án là được ngoại bang nuôi dưỡng, viện trợ, để làm tay sai. Biện minh rằng các bổng lộc đó là sự đóng góp của nhân dân là rất nực cười và phi lý. Miền Nam thời chiến tranh, ruộng đồng bỏ hoang, kinh tế trì trệ không đủ sức nuôi dân, ngay hạt gạo cơ bản của người dân cũng phải nhập từ nước ngoài, mọi kinh phí chiến tranh, kể cả lương bổng cho công nhân viên chức đều trông chờ vào ngoại bang, thu nhập thuế má từ dân chúng coi như số không, vậy mà có những người cứ xin cấp học bổng đi nước ngoài, cứ tháng tháng lãnh lương của một viên chức Việt Nam Cộng hoà rồi quay lại chống phá và hoạt động tiếp tay cho phía bên kia, xin gọi là hành động gì? Lời trách cứ trên dù có nặng nề, cũng đâu có quá oan khiên, phải không? Các ông có thấy mâu thuẫn khi lý luận rằng mình ăn cơm của nhân dân chứ không phải của quốc gia nào cả, nên chẳng có gì phải hối hận hay mặc cảm? Hay nhắc nhở như thế là mạt sát, là còn nuôi dưỡng hận thù? Sự thực nhiều khi đau lòng, nhưng khi uất ức trong lòng được phát ra, nỗi đau cũng được giải toả, dù mất mát thì chẳng bao giờ lấy lại được.
Thế hệ của chúng tôi, ở cả hai miền Nam Bắc, là một thế hệ bất hạnh. Thế hệ của sự mất mát, sinh ly tử biệt. Ra đời và lớn lên trong thời kỳ khói lửa tương tàn, trưởng thành vào đúng giai đoạn tàn khốc nhất của cuộc chiến, người thanh niên không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải hoà nhập vào chiến tranh, có người vì lý tưởng bên này hoặc bên kia, nhiều người khác đơn giản chỉ đi làm nhiệm vụ một công dân. Cuộc huynh đệ tương tàn ấy là thảm kịch đáng nguyền rủa nhất trong lịch sử nước nhà. Chúng tôi đã không có cơ hội được đi trọn con đường học vấn giáo dục để tạo dựng một nghề nghiệp vững chắc cho mình và đóng góp xây dựng đất nước. Bị tung vào cuộc chiến, săn lùng tiêu diệt nhau bạo tàn hơn thú dữ, lớp lớp người thay nhau ngã xuống, mộ phần rải khắp nẻo quê hương, biết bao kẻ đến nay còn biệt tích không cả một nấm mồ. Nhiều người sống sót trở về cũng đã để lại một phần thân thể, sống một kiếp tật nguyền tàn tạ. Một số bị trả thù, trù dập dã man trong các nhà tù, cải tạo. Có những người như tôi, may mắn vượt thoát đến những vùng trời mới, hít thở không khí tự do, nhưng đa số còn ở lại vẫn đang chịu sự nghiệt ngã của cảnh “rau răm ở lại chịu lời đắng cay”.
Đúng như ông Tiêu Dao Bảo Cự nói, mọi người Việt Nam cần sám hối, vì hầu như ai cũng dự phần vào cái bi kịch đau thương của Việt Nam ngày nay. Tuy nhiên, sự sám hối của mỗi người mỗi khác. Tôi sám hối không phải vì đã tham dự vào guồng máy chiến tranh trong quá khứ, mà vì trong quá khứ ấy tôi đã không làm tròn trách nhiệm của một công dân, cũng như không làm đầy đủ nhiệm vụ một người chiến đấu bảo vệ tự do, vì sự thiếu trách nhiệm ấy đã để xảy ra biến cố đau thương 1975, đưa đến thảm hoạ cho Tổ Quốc và dân tộc hiện nay.
Tóm lại, trong tinh thần đối thoại để tìm hiểu và thông cảm, mọi vấn đề, mọi sự kiện của bối cảnh lịch sử cần được nhìn dưới nhiều góc cạnh, nhiều lăng kính để tìm ra sự thực. Đó không phải là những lời phê phán chỉ trích có tính cách bêu xấu mạ lỵ. 60% người Việt hiện tại sinh ra sau những biến cố lịch sử đó, họ cần biết sự thật. Sự thật vẫn chưa thể có, khi mà ở trong nước chưa có tự do ngôn luận, các phương tiện truyền thông báo chí vẫn chỉ là công cụ tuyên truyền một chiều của Đảng. Tiếng nói của người dân trong nước, đặc biệt của những người trong chế độ miền Nam cũ cho đến nay vẫn còn câm nín, họ vẫn đang bi bịt miệng, thì tiếng nói ngoài nước, trong thời đại thông tin toàn cầu, cần là một lực đối trọng cho việc đưa sự thực ra ánh sáng. Qua đó, giới trẻ Việt Nam có sự đối chiếu trong ngoài, qua nghiên cứu tài liệu sách vở và bằng lý luận khôn ngoan có thể hiểu rõ và viết lại những trang sử trung thực hơn. Quá khứ dù đau xót tủi nhục cũng vẫn là một phần lịch sử, một phần máu thịt của quê hương. Mọi mổ xẻ để tìm ra sự thực về một quá khứ lịch sử đều đau đớn và vật vã, nhưng là cần thiết để cắt đi những ung nhọt của xung đột tư tưởng, để giảm thiểu những tự tôn và tự ti đáng lẽ không nên có, để hạn chế những hiểu lầm vụn vặt dẫn đến việc mạ lỵ vu khống lẫn nhau.
Nếu ông Tiêu Dao Bảo Cự và những trí thức miền Nam có cùng quan điểm đối thoại với tôi, chúng ta có thể cùng chấp nhận những lý luận của ông và của những người có cái nhìn tương tự như tôi, không phải hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai, mà có đúng sai lẫn lộn. Nhưng nhờ đối thoại, ít ra mỗi ngày quan điểm của hai bên càng tiến gần nhau hơn và con đường tới dân chủ hoá Việt Nam có chiều hướng tích cực hơn.
Mong quí vị thông cảm cho những suy nghĩ lòng vòng dông dài của tôi và cố hiểu được trong đó những thành tâm thiện ý.
Australia, 23/09/2006
Đề tài liên quan
- Tôi bày tỏ, Tiêu Dao Bảo Cự
- Vài ý kiến về tập truyện "trên cả hận thù" của TDBC, Bảo Trân
- Về một diễn đàn dân chủ , Tiêu Dao Bảo Cự
Đối thoại với người phía bên kia
GỬI NGƯỜI BÊN KIA CHIẾN TUYẾN
Cứ mỗi lần coi lại dĩa DVD Paris by night 77 “30 năm viễn xứ” của trung tâm Thúy Nga, tôi lại rơi nước mắt. Phần khóc vì những hình ảnh đầy cảm xúc và bi thương. Phần khác vì những hình ảnh đó chính lá 1 phần trong cuộc đời tôi. Như ông MC NNNgạn nói trong dĩa: Nói về quá khứ không phải khơi lại một niềm đau, mà đễ gợi lại một nỗi nhớ. Tôi viết những dòng chữ này không phải để căm hờn oán hận ,mà chỉ muốn nói lên tâm sự đã từng ấp ủ hằng bao năm qua mà chưa có dịp tỏ bày. Cũng cần nói rõ thêm là chính bản thân gia đình tôi có một hoàn cảnh tương tự như câu chuyện của ông Ngạn.: Vợ tôi (29 tuổi) và 2 đứa con tôi (1 trai 6 tuổi, 1 gái 2 tuổi) cũng đã vuì thây nơi biển Đông trên con đường tìm tự do năm 1983. Mới đó mà đã trải qua hơn 20 muà dâu bể. Gần đây, chỉ mới mấy hôm thôi, nhìn những hình ảnh cuả tượng đài tưởng niệm những người quá cố vừa mới được khánh thành tại Malaysia và Indonesia bị nhà nước VN áp lực các nước sở tại phá huỷ đi,lòng tôi thật đau xót. Bao năm rồi,những người xấu xố ấy mới có được 1 bia mộ chung, nơi mà những người than còn sống sót như tôi có nơi để thi thoảng đến thắp 1 nén hương tưởng nhớ, vậy mà cũng không xong. Đáng tủi hổ thay cho những người mệnh danh là lãnh đạo 1 đất nước mà quá ty tiện nhỏ nhen, đến mức ghen tỵ,sợ hãi cả những người đã chết từ hơn 2,3 mươi năm trước.Xin một câu hỏi là đến bao giờ các NGÀI mới để cho họ yên nghỉ?Khi lên mạng đọc các bài tranh luận về cái tưạ đề: Ba mươi năm, gọi tên gì cho cuộc chiến, đặc biệt là các bài trả lời của ông Nguyễn Hoà, tôi thực sự bức xúc. . Tên gì cho cuôc chiến thì xin để lịch sử và những trí thức như ông Khoa, ông Hoà nghiên cứu đặt để. Tôi 1 người cu li kiến thức nông cạn không dám lạm bàn, chỉ xin nói đến 1 chi tiết nhỏ trong câu văn cuả ông Hoà: “Khi tôi từ chiến trường trở về, đất nước đã đổi thay.”
Đất nước đổi thay như thế nào? xin được thưa vào 1 dịp khác. Ở đây chỉ xin nói đến vế đầu: Khi tôi(ông Hoà) từ chiến trường trở về.
Thưa ông Hoà cùng các chiến hữu của ông,những “bộ đội cụ Hồ” như một số người thường vỗ ngực tự xưng, (xin mở ngoặc ở đây là đôi khi tôi tự hỏi tại sao lại gọi là lính cụ Hồ nhỉ? chẳng lẽ gia nhập bộ đội chỉ để bảo vệ cho mình ông Hồ thôi sao?) chúng tôi, những người lính bên kia bờ chiến tuyến,gọi là lính miền Nam cho gọn, xin nói với ông rằng: từ chiến trường, ông còn có chỗ để trở về, còn chúng tôi ăn ngủ hít thở trong chiến trường.Và khi trở về thì , ô hay, chỗ nào để về nhỉ? đâu cũng là chiến trường cả. Tôi muốn nói, nơi đi chốn về chỉ là một.
Ngay từ khi còn nhỏ, từ những ngày đầu cuả cuộc chiến 2 miền(xin lỗi nhé , tôi văn dốt vũ nát, gọi bình dân vậy cho dễ hiểu) những đứa trẻ miển Nam lớn lên trong chiến tranh, trộn lẫn nước mắt, có khi pha cả máu trong bom đạn khói lửa, trên lý thuyết , không có nhiều cơ hội tìm hiểu cặn kẽ về chủ nghĩa cộng sản. Thực tình mà nói,trước 1975, người dân miền Nam ít ai đễ ý đến khía cạnh chính trị của cuộc chiến, cho dù có 1 số vẫn gọi nó là cuộc chiến về ý thức hệ. Người dân miền Nam thường chỉ nhìn vào thực tế của cuộc sống. Chúng tôi hiểu chủ nghĩa và con người cộng sản theo những gì xẩy ra mà chúng tôi nhìn thấy trước mắt. Đó là những cụ thể trong cuộc sống. Những năm tháng còn cắp sách đến trường, đám trẻ miền Nam chúng tôi tha hồ bay nhảy, tự do học hành vui chơi. Không ai ép buộc chúng tôi phải học chính trị, nghiên cứu lý thuyết này, cấm lý thuyết kia;không hội họp, không phê bình kiểm thảo,không phải gia nhập bất cứ đoàn thể, đảng phái nào nếu mình không muốn, không bị lùa đi như đàn vịt để suy tôn hay đả đảo ai,lãnh tụ này, chủ tịch nọ. Chúng tôi có thể sinh sống bất cứ đâu trong miền Nam, làm bất cứ công việc lương thiện nào chúng tôi muốn. Và chúng tôi tương đối mãn nguyện với nền dân chủ tự do vào lúc đó. Riêng về phía các anh, những người trong hàng ngũ bộ đội miền Bắc,cùng đám du kích quân tự gọi là giải phóng miền Nam, các anh đã đang làm những gì lúc đó tại miền Nam? Đặt mìn giựt xập cầu cống, phá đường đắp mô,pháo kích bưà bãi vào làng xóm, ném lựu đạn vào trường học chợ búa hoặc ngay cả bệnh viện ,các cơ sở tôn giáo, khủng bố giết hại những người dân vô tội mà các anh tự động gán cho tội việt gian phản động. Các anh có biết rằng bàn tay của các anh đã gây bao đau thương tang tóc cho người dân lành mà đa số là đàn bà trẻ con vô tội? Vậy thì thưa các anh, chứng kiến những hành động đó của các anh hằng ngày, thì khi lớn lên, đến tuổi phải thi hành nghĩa vụ công dân, người dân miền Nam chúng tôi phải làm gì nếu không là đi chiến đấu để bảo vệ sinh mạng và tài sản cuả chính gia đình chúng tôi? Khi mà mạng sống của thân nhân cũng như chính bản thân chúng tôi bị các anh coi như cỏ rác.Hơn thế nữa, các anh đòi tước đoạt hết mọi sinh hoạt tự do cuả chúng tôi. . Tại sao các anh co rằng mình có quyền ban phás sự sống cho kẻ khác?
Chính vì thế, khi gia nhập vào hàng ngũ quân đội miền Nam VN, chúng tôi không ít thì nhiều đều có lý tưởng và chính nghiã: lý tưởng là sự tự do, và chính nghĩa là chống lại những độc tài tàn ác mà các anh dùng chiêu bài giải phóng để biện minh cho tội ác khủng bố phá hoại của các anh. 20 năm chiến tranh, có nơi nào ở miền Nam mà máu của dân lành không đổ vì những hành động phi nhân ấy. Đừng nói với chúng tôi rằng đó là cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. Dù là những người dân đen thất học, chúng tôi cũng dư biết rằng cuộc chiến do các anh chủ động rất lâu trước khi người Mỹ đem quân vào miền Nam, chúng tôi cũng thừa biết rằng trong lịch sử thế giới, Mỹ chưa bao giờ đi xâm lược 1 quốc gia nào, chưa hề có 1 thuộc địa. Chúng tôi khẳng định rằng không bao giờ là tay sai của Mỹ, chúng tôi không chiến đấu cho Mỹ,không đánh thuê cho bất cứ ai. Đơn giản, chúng tôi coi người Mỹ là 1 trong những đồng minh đến giúp chúng tôi chống lại các anh, những người cứ nhất định đòi nhuộm đỏ mảnh đất miền Nam tự do của chúng tôi.Hiểu biết về cộng sản tuy không nhiều cũng đủ để chúng tôi sợ hãi muốn tránh xa hiểm hoạ đó mà quyế tâm bảo vệ lý tưởng tự do của mình. Không, chúng tôi là tay sai của Mỹ, thử hỏi trong suốt 20 năm của cuộc chiến, có ai tìm ra được 1 dòng chữ nào của sách báo văn chương miền Nam hay 1 câu nói nào của người dân miền Nam để tâng bốc Mỹ như nền văn chương báo chí của miền Bắc tâng bốc đất nước và lãnh tụ củ Liên Xô và Trung cộng và các nước cộng sản khác không? Có chăng là đám bồi bút của các anh viết hoặc nói ra để bôi bác chúng tôi. Người dân miền Nam khi đề cập đến Mỹ, họ chỉ đơn giản gọi là người Mỹ, quân Mỹ, hoặc có người xách mé gọi là thằng Mỹ mà thôi. Nói ra như thế để cho thấy ai làm tay sai cho ai.
Dài dòng như thế để các anh hiểu, chúng tôi những người miền Nam có lý tưởng cuả chúng tôi. Dù sau ngày 30/04/75, chúng tôi trở thành người thua cuộc, bị nguyền rủa,mạt sát . nhục mạ thậm tệ;bị gán cho danh từ phản động, bị gọi là ngụy quân nguỵ quyền, bị coi là có nợ máu với nhân dân mà không biết mình có nợ từ lúc nào. Chúng tôi bị trả thù dã man tàn bạo trong các trại tù cải tạo khắp nước, nhà cửa tài sản bị tịch thu, gia đình người thì tan nát, người sống dở chết dở. Thật là 1 cuộc ăn cướp trả thù hèn hạ và đê tiện. Trượng phu không đánh người ngã ngựa, nhưng các anh thì nhẫn tâm triệt moị đường sống của người dân miền Nam chúng tôi;mà chúng tôi có tội gì , ngoài cái tội không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản phi nhân, ngoài cái tội bảo vệ lý tưởng tự do của chúng tôi, ngoài cái tội là người thua cuộc?Ba mươi năm đã trôi qua, kể từ khi chúng tôi là người thua cuộc. Khơi lại những quá khứ đau thương ấy không phải để căm thù hay óan hận, mặc dù chúng tôi đã ngậm đắng nuốt cay bao nhiêu năm trường. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói lên tiếng nói của mình với các anh rằng: chúng tôi cũng có lý tưởng riêng cuả chúng tôi trong cuộc chiến. Khi các anh cho rằng chính nghĩa ở về phiá các anh với lý tưởng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,kiện toàn XHCN hay CSCN, chúng tôi đã và vẫn luôn nghĩ rằng, mặc dù thua cuộc, chính nghiã vẫn ở về phiá chúng tôi, lý tưởng về tự do và dân chủ củ chúng tôi cho 1 đât nước VN phồn thịnh vẫn ngời sang.
Viết những dòng chữ này, khi tôi đọc bài viết “Đất nước này không phải của riêng ai” của anh Nguyễn Xuân Đức trong sự xúc động bồi hồi. Dù không có cái tài năng làm xúc động long người như anh Đức, tôi vẫn cứ viết, vì tôi nghĩ , phía bên kia chiến tuyến, những người như anh Đức không phải là ít. Dù không phải là đồng đội, chúng ta đều là người dân Việt, có chung 1 ưu tư khắc khoải cho đất nước, muốn làm cho dân mình một cái gì đó . Chúng ta còn rất nhiều dị biệt. Những khoảng cách dị biệt ấy chỉ ngắn đi qua sư đối thoại. Sự khác biệt trước tiên là về lý tưởng như tôi đã nói. Hy vọng với đối thoại này,chúng ta có cơ hội hiểu biết để tiến gần nhau hơn.
Bài này xin gửi đến những người lính già hay trẻ ở ben kia chiến tuyến, nhưng có cùng 1 hoài bão với tôi trong việc tìm cách xích lại gần nhau để cùng mục đìch đấu tranh đòi hỏi dân chủ , tự do, nhân quyền đa nguyên đa đảng cho nhân dân VN từ tay bọn cầm quyền tham nhũng độc tài độc đảng Ba Đình, Hà Nội. Xin đóng góp ý kiến xây dựng trong hoà bình .
Australia 14/07/2005
Các bài liên quan:
1/- 30 năm nhìn lại chiến tranhcủa Trần Trung Đạo
2/- Tranh luận về tên gọi cuộc chiếncủa Lê Xuân Khoa (1)
3/- Tranh luận về tên gọi cuộc chiếncủa Lê Xuân Khoa (2)
4/- Đất nước mình đã khác nhiều lắm kể từ khi tôi trở về của Nguyễn Hoà
5/- Con sông Gianh chảy giữa lòng Hà Nội của Trần Trung Đạo
6/- Thư gửi ông Nguyễn Hoà của Hồ Duy Tân
7/- Gửi Nguyễn Hoà,người đồng đội của Nguyễn Xuân Đức
8/- Tôi thì ở xa về của Hồ Phú Bông
9/- Vài ý kiến qua thảo luận về tên gọi 1 cuộc chiến của Đỗ Xuân Mai
10/- 30 năm nhìn lại 1 cuôc chiến của Việt Cường
11/- 30 năm,nỗi đau chưa thấm của Trần Trung Đạo
12/- Nhận diện Nguyễn Hoà và bài viết của Hà Thành tạp bút
Subscribe to:
Posts (Atom)