Showing posts with label Chuyện thời sự. Show all posts
Showing posts with label Chuyện thời sự. Show all posts

Chuyện thế vận Bắc Kinh

Thế Vận Hài Bắc Kinh




Trung Quốc đã chi ra trên 40 tỷ đô la cho việc tổ chức Thế Vận Bắc Kinh, mục đích để vuốt ve lòng kiêu hãnh của nhân dân Trung Hoa về tư tưởng đại Hán, phô trương với thế giới về sự thành công phát triển vượt mức về kinh tế của một chính quyền độc tài và muốn chứng tỏ sức mạnh của gã khổng lồ, xứng đáng là một siêu cường mới. Cái khẩu hiệu: “một thế giới, một ước mơ” “ họ đã chọn nói lên điều đó.

Đó là mục tiêu mà nhà cầm quyền Trung Quốc mong muốn và đã quyết tâm bằng mọi giá để thực hiện cho kỳ được một Trung Quốc vĩ đại sẽ có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ vào mọi quốc gia trên mọi phương diện, sánh vai và sẵn sàng thay thế Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới. Nhìn qua lễ khai mạc Thế Vận ngày 8 tháng 8 vừa qua với những mục trình diễn phô trương rất hoành tráng ngoạn mục, đồng thời với số lượng huy chương vàng đã đoạt được hiện nay đang đứng đầu bảng, người ta có cảm tưởng họ đã đang đưa những mơ ước của họ thành hiện thực.

Coi vậy mà không phải vậy. Diễn tiến rước đuốc tiền thế vận được bắt đầu thật quy mô, long trọng, tốn kém với lộ trình dài nhất, qua nhiều quốc gia nhất, đã thu lượm được nhiều phiền toái và cay đắng hơn là sự huy hoàng, rực rỡ như mong đợi, với việc bất ngờ bị cả thế giới chú ý đến sự xâm lược Tây Tạng, đàn áp Pháp Luân Công, vi phạm trầm trọng tình trạng nhân quyền trong nước, đàn áp nhân dân, những người đang đấu tranh bất bạo động cất tiếng nói, viết hay có hành động cổ xuý cho dân chủ trong nước, gìới hạn và ngăn cản các quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, bị phản đối mạnh mẽ qua việc dựng bức tường lửa vĩ đại ngăn cản các trang mạng Internet ngoại quốc được mệnh danh là the great firewall of China. Kết quả cuộc rước đuốc vĩ đại trở thành đầu voi đuôi chuột, chìm vào quên lãng, bộ mặt thật nham nhở, dã tâm trong việc rước đuốc lòi ra. Cuối cùng, thất bại trong tuyên truyền, trò rước đuốc biến thành tiếng hú giận dữ của con vật bị thương lồng lộn trong vườn thú của riêng mình bằng sự kích động tính kiêu hãnh tự tôn của dân tộc đi đàn áp kẻ khác ngay trên đất nước của họ. Đánh thức lòng kiêu hãnh Đại Hán của người dân. Có lẽ đây là điều thành tựu nhất cho đến lúc này nhà cầm quyền Trung Quốc đã làm được.

100.000 nhân viên An ninh giữ tật tự cho Olympic
Nguồn: Paula Bronstein/Getty Images
Thế Vận Bắc Kinh, kể từ buổi lễ khai mạc 08/08/2008, đang được giới báo chí truyền thông quốc tế mệnh danh là thế vận hàng giả với những trò giả mạo, lừa bịp, vô cảm, nhẫn tâm chỉ sau một tuần lễ khai mạc. Các trò lừa bịp dối trá từ từ được phơi bày ra trong khi các cuộc tranh tài vẫn đang tiếp diễn qua tuần lễ thứ hai. Những vấn đề được giới truyền thông ngoại quốc phát hiện ra như sau:

- Vì quyết tâm phô diễn một buổi lễ khai mạc thật hoàn hảo trong khi sự luyện tập rất gian khổ và thiếu an toàn, một tai nạn đã xảy ra trong một buổi tổng diễn tập vào cuối tháng Bảy, một nữ nghệ nhân bị té rơi xuống sàn trong khi tập biểu diễn bay lượn trên không. Thông báo chính thức của nhà nước và uỷ ban thế vận Bắc Kinh loan báo cô chỉ bị gãy chân. Còn theo tin tức bên ngoài không chính thức, cô có thể đã bị liệt vì hai chân đã mất cảm giác, trích lời đạo diễn Trương Nghệ Mưu nói rằng, ông rất buồn khổ vì tai nạn. Bây giờ, niềm vui lớn nhất của ông trong thế vận này là nhìn thấy lại cô đi đứng được trên đôi chân của mình.

- Màn bắn pháo bông với 35000 pháo bông tại 1800 địa điểm trong lễ khai mạc chưa đủ ngoạn mục cho buổi lễ đến nỗi ban tổ chức tô vẽ thêm bằng xảo thuật tạo hình trên net,được ghi hình trước với những kỹ thuật xếp đặt cả hàng năm trước được ghép vào để lừa gạt khán giả trên truyền hình khắp nơi trên thế giới về vẻ hoành tráng lộng lẫy giả tạo.

Tráo mặt, lừa dối trẻ thơ vì “lợi ích dân tộc”
Nguồn: AP Photo/ABC
- Thành viên cao cấp bộ chính trị can thiệp trực tiếp, buộc ban tổ chức buổi lễ phải đánh tráo, không cho cô bé Dương Bái Nghi 7 tuổi có giọng hát tuyệt vời ra trình diễn, để thay vào cô bé Lâm Diệu Khả 9 tuổi có ngoại hình ra hát nhép. Chính quyền bào chữa cho vụ đánh tráo, cho rằng vì lợi ích tối cao của quốc gia, việc thay người không có gì là sai trái.

- Những trẻ em trong lễ phục truyền thống đại diện cho 56 sắc tộc thiểu số bên cạnh tộc chính đại Hán rước cờ quốc gia vào vận động trường cũng thuộc hàng giả, mọi người tưởng các em từ các sắc tộc thiểu số chính gốc, thực tế đó là các em tộc Hán của trường kịch nghệ Thiên Hà.

- Các cô gái đăng ký xin làm ứng viên trình diễn hoặc phục vụ trong thế vận, ngoài tiêu chuần cao ráo và xinh đẹp, đã phải lột bỏ hết quần áo trang phục trước một ủy ban để được đo đạc, cứu xét trước một uỷ ban giám sát trước khi được tuyển chọn. Sau đó phải theo một chương trình tập luyện nhiều ngày tháng rất gian khổ, nhiếu khi chỉ với một vài động tác đơn giản. Có người cho biết phải tập cười thôi cũng đã cười nhiều đến nỗi quai hàm bị cứng.

- Có những chương trình tập luyện rất nghiêm khắc và dài giờ như người lớn cho những trẻ em chỉ ở độ tuổi 5 đến 9 tuổi với mục đích đào tạo các em thành các siêu lực sĩ tương lai, bất chấp sự luyện tập đó có thể đồng nghĩa với sự hành hạ trẻ em.

- Tin tức từ nhà nước cũng cho biết để có những di động tạo hình cho khối bloc làm tâm điểm cho sự trình diễn về lịch sử Trung Quốc qua các thời đại trong lễ khai mạc, trên duới 900 binh lính đã phải ẩn mình dưới một công trình tới 7 tiếng đồng hồ, tất cả phải mặc tã lót như trẻ em vì không được phép rời vị trí để làm vệ sinh cá nhân.

- Ít nhất ba thành viên của đội thể dục thẩm mỹ nữ Trung Quốc bị nghi ngờ đã gian lận tuổi tác, vi phạm điều luật tham gia thi đấu thế vận quốc tế (phải đủ 16 tuổi). Chính quyền TQ đưa ra giấy tờ khai sinh chứng nhận He Kexin, người đoạt huy chương vàng thể dục thẩm mỹ đủ 16 tuổi. Nhưng người ta nghi ngờ, quan sát theo nhân dạng bé nhỏ và khuôn mặt còn nguyên vẻ non dại. Hơn nữa, báo chí ngoại quốc đã tìm ra một bản tin trên Tận Hoa Xã, cơ quan ngôn luận chính thức của nhà nước Trung Quốc 9 tháng trước đây tỏ ý e ngại He sẽ không đủ điều kiện tuổi tác thi đấu vì cô chỉ mới 13 trong lúc đó.

- Báo chí thế giới bình luận đây là thế vận đầu tiên tổ chức trong nhà tù,dưới quyền kiểm soát của quân đội. Đội quân bảo vệ an ninh quá lớn gồm: 110000 binh lính và công an, cộng thêm trên 290000 thiện nguyện viên để giữ gìn an ninh thật khó lòng tưởng tượng.. Binh lính được dàn trải khắp các ngã tư cách các sân thi đấu nhiều cây số. Người ta nhận thấy nhiều vị trí có và xe tăng và các giàn phóng tên lửa. Bình luận gia cho rằng đây là đội quân bảo vệ chính quyền chứ không nhằm bảo vệ lực sĩ thi đấu .

- Được biết, ngoài một số đông người được bố trí trong hậu trường, cánh gà làm các động tác vỗ tay giả trước hệ thống khuyệch đại, trong lễ khai mạc còn có khoảng 30 đội cổ vũ có mặt chung với khán giả để hướng dẫn họ cách vỗ tay cổ vũ cho đúng cách.

- Tuyên bố đã bán sạch vé từ cuối năm 2007, nhưng nay mọi cuộc tranh tài, kể cả khi có đội chủ nhà thi đấu, vẫn có rất nhiều chỗ trống trên hàng ghế khán giả. Nhà nước đổ tại thời tiết xấu, nhưng người dân cho rằng chính quyền muốn hoàn toàn kiểm soát được thái độ đám đông đã giữ vé lại. Sau này, đem phân phát cho các câu lạc bô, các trường học, dân các tỉnh lân cận vào chám chỗ trống để khỏi mất mặt.

Bỏ ra đến 42 tỷ đô la để khoa trương cho thế giới nể mặt, lại chỉ phô trương được mấy chuyện dối trá, thật là một giá quá cao. Có lẽ chỉ có nhà cầm quyền Cộng Sản Trung Quốc dám làm. Họ dám làm và làm không biết ngượng vì tiền bạc, công sức, chi phí bỏ ra là tiền thuế của dân, do nhân dân phải gánh chịu, chứ chính họ, đám lãnh đạo cầm quyền đâu có đóng góp. Lạm dụng danh từ “vì quyền lợi đất nước” cho việc áp đặt sự hy sinh của nhân dân cả về tài sản lẫn nhân mạng để phục vụ cho mục đích vá quyền lợi riêng của họ và của đảng CS cầm quyền là điều họ lấy làm hãnh diện mà thế giới không cộng sản không thể nào hiểu nổi. Lại nữa, bản chất của người Cộng Sản là bạo lực, dối trá và vô cảm. Họ không thấy sự gian dối là đáng xấu hổ. Trái lại, họ còn kiêu hãnh cho rằng lừa bịp ai được một chuyện gì là đã thắng kẻ đó về mưu mô hay tài trí hơn ho.

Thế Vận Bắc Kinh còn đang tiếp diễn. Trên đây chỉ mới vài ba món lừa được phơi bày ra ánh sáng. Chắc chắn, những màn hài hước sau ngày bế mạc sẽ còn dài dài. Chúng ta hãy chờ khi màn hạ, anh hề Trung Quốc đi vào hậu trường gỡ lớp son phấn để nhìn cho rõ phần nào của bộ mặt thật Thế Vận Bắc Kinh loang lổ ra sao?

Bảo đảm sẽ tha hồ cười… ra nước mắt..


18/08/2008

Đếm những mảnh đời






Đếm những mảnh đời.

Từ những mảnh giấy vô hồn…
Đảng và nhà nước CSVN đang ở trong những ngày vui mừng phấn khởi.. Cánh cửa của Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới (WTO) đã rộng mở. VN có cơ hôi bước vào và được chào đón trong tư thế của hội viên thứ 150. Sự vui mừng được thể hiện rõ qua uỷ ban đàm phán , với sự hỗ trợ của toàn bộ hệ thống truyền thông báo chí nhà nước và một phần của Quốc Hội CSVN. Hôm nay, Quốc Hội đang họp khoá, trong tư thế chuẩn bị cho sự gia nhập WTO. Cứ theo nhận định khách quan, quốc hội CSVN quả có chút tiến bộ.Lúc này, các đại biểu cũng bắt chước thiên hạ thế giới với dăm ba câu chất vấn bộ sở nhà nước, cho dù rốt cuộc cũng chỉ nhận được những câu phát biểu trả lời chung chung bù trớt, không đâu vào đâu. Dù sao, có còn hơn không, các đại biểu quốc hội tuy đa số đã cùng đảng và nhà nước rất lấy làm hãnh diện và hồ hởi phấn khởi trong cái vụ từ từ , thong thả, khệnh khạng (mà lòng như lửa đốt) bước vào ngưỡng cửa (chính) WTO, vẫn có một số ( nhỏ nhoi, lạc hậu, không đáng kể) có tâm trạng nghi ngờ, ngại ngùng, băn khoăn, dè dặt. Trong bài Lạc quan nhưng khó khăn tiềm ẩn (báo Tuổi Trẻ 22/10/06), tiến sĩ Nguyễn Đăng Vang, đại biểu tỉnh Bình Định rất lạc quan với con số dự báo tăng trưởng kinh tế 8.2% của VN ngay trong năm đầu tiên của kế hoạch năm năm 2006-2010. Ông này còn phấn khởi tới mức đem dẫn chứng một luận đoán có tính giả thuyết của một tổ chức đánh giá quốc tế (Goldman Sachs JBWere) mà ông gọi là một cơ quan tài chính lớn tại Mỹ nói rằng: đến năm 2025, VN có thể đứng thứ 17 thế giới về tiềm lực kinh tế.
Tuy nhiên, đại biểu Cần Thơ Lê văn Tâm lại băn khoăn rằng: tăng trưởng 8.2% theo báo cáo thì cao và vượt kế hoạch, nhưng trên thực tế, các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp chiếm không dưới 80% dân số đất nước lại không đạt kế hoạch đề ra là 3.8% (chỉ đạt 3.4-3.5%), như vậy là không vững chắc, hay nói cho thiệt đúng phải gọi là phát triển một cách khập khiễng.
Đại biểu Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh còn đi vào chi tiết hơn: . Ông phân tích: tổng thu ngân sách xấp xỉ 16 tỉ USD, trong đó thu nội địa khoảng 8 tỉ USD, từ dầu thô khoảng 4,2 tỉ USD, thu xuất nhập khẩu 2,6 tỉ USD và thu viện trợ khoảng 1,6 tỉ USD. Trong khi đó, nợ trong dân hiện nay qua bán trái phiếu và một số loại khác khoảng 22 tỉ USD, nợ nước ngoài gần 20 tỉ USD... và ông dí dỏm : “Một bức tranh kinh tế như thế mà cho rằng năm 2025 VN sẽ đứng thứ 16-17 của kinh tế thế giới thì tôi rất nghi ngờ, gắng sống thêm 19 năm nữa xem coi”.

Đến những mảnh đời tơi tả.
Những vui mừng, băn khoăn, dí dỏm của các đại biểu trên đây chẳng qua chỉ là những bức tranh kinh tế của VN vẽ trên giấy. Để tìm xem sự phát triển khập khiễng của kinh tế VN trong thực tế ra sao, có lẽ chúng ta nên đi tìm đến những mảnh đời thiên hình vạn trạng đang vỡ vụn hàng trăm mảnh của người dân lao động VN để xem cái thực trạng của nó bi hài đến mức độ nào.
Mảnh đời có lương có lậu.
Mảnh đời nhân viên công chức. Vợ chồng Đức và Thơm, cả 2 đều lá cán bộ công nhân viên nhà nước. Đức có 12 năm thâm niên qua ba cơ quan từ tỉnh lẻ lên trung ương, Thơm, giáo viên cấp 2. Lương của Đức 1.1 triêu mỗi tháng chỉ đủ cho mình anh trong 20 ngày, lương của Thơm cũng khoảng ấy. Cả 2 cộng lại cũng chỉ đủ chi 1/3 đời sống gia đình có 2 con, 2/3 còn lại không thể trông vào đồng lương. Một nhà nghiên cứu kinh tế, cũng là một công chức hưởng lưong nhà nước 30 năm nói chưa bao giò đồng lương của công chức VN đáp ứng nhu cầu tối thiểu của đời sống. Thời bao cấp, ai cũng bám vào nó như một nỗi tủi hổ, ngoài ra không có cách nào khác (Thực ra có một ít cách , nhưng quá nhỏ bé và nhục nhã vì là sự tranh giành cái ăn cái mặc mà nhà nghiên cứu này không nỡ nhắc đến). Nhưng lúc này, công chức đã có nhiều “bầu sữa” khác và dần dà nhà nước cũng chấp nhận những nguồn thu không chính thức này của họ.
Cái”bầu sữa” không chính thức này được gọi là bổng lộc hay diễn nôm gọi là…lậu. Theo bài báo Muôn đời…lương lậu ( Tuổi Trẻ 22/10/06) thì: Bài học đầu tiên làm công chức của Đức là: đi họp bây giờ ai cũng có “tiêu chuẩn” nôm na gọi là phong bì. Tiêu chuẩn của phong bì dầy hay mỏng tùy thuộc vào cơ quan tổ chức, khách mời và sự kiện họp. Phong bì là một khoản thu nhập không thể thiếu của công chức. Nó đã thành truyền thống của mọi cơ quan nhà nước. Báo kể chuyện vợ ông cựu bộ trưởng kế hoạch đầu tư Trần Xuân Giá mang bản khai sinh gốc của con gái ra phường để nhờ chứng thực bản sao mà chị làm văn thư ở phường cũng làm khó dễ (vì không kèm phong bì) đến nỗi phải nhờ tới bộ trưởng tư pháp can thiệp mới xong. Đó chỉ là một chị văn thư quèn tại phường với một gia đình từng là bộ trưởng còn thế, còn người dân bình thường (mà không có lậu) thì làm sao?
Đối với người dân thường, ngay một bà già bán nước ở vỉa hè cũng phải biết “hợp tác” để đóng …lậu cho mấy anh cảnh sát giao thông trật tự. Chỉ một anh dân phòng cũng kiếm được hằng triệu tiền “lộc” mỗi tháng. Không những chỉ cán bộ công nhân viên ở trong mọi cơ quan chính quyền bộ sở các cấp mới coi bổng lộc như một quy định theo tiêu chuẩn: cơ quan càng có quyền lực , ảnh hưởng lớn đến xã hội thì phong bì bồi dưỡng càng dày, màu mỡ hầu như bắt buộc phải có trong mọi ngành nghề trực thuộc nhà nước. Đưa vợ đến bệnh viện sanh con cũng phải đổi sẵn các loại tiền lớn nhỏ để chi trải cho những cửa phải qua, từ chị hộ lý, bà lao công quét rác đến anh trông xe. Bác sĩ không nhận phong bì, nhưng chìa tấm danh thiếp của họ ra. Muốn chữa khỏi bệnh thì phải đến phòng khám tư của “ngài bác sĩ” có ghi địa chỉ trong danh thiếp. Ấy là nói về đám cán bộ công nhân viên quèn, còn với các ông lớn thì hãy xem báo Lao Động số 301 ngày 01/11/2006, bài “Năng lượng phong bì” tường thuật về ông giám đốc kho bạc tỉnh Hà Tây chỉ trong 1 năm có tới 9 lần gửi tiết kiệm lên tới số 1.4 tỉ bạc VN, ông còn minh hoạ cuộc đời “vô sản “ của ông bằng sự lãng trí đánh rơi 22 chiếc phong bì đựng tiền có ghi tên người đưa và có bút phê của ông rất rõ ràng. Đúng là các ông lớn CSVN bây giờ đã hoàn toàn hạnh phúc ở trong thiên đường cộng sản.
Những mảnh đời có lương không lậu,
Trong khi đó , anh N. X. Hà, làm chuyên viên một bộ, có bằng cấp đại học, lưong 600,000/tháng. Anh than thở: thuê nhà hết 500,000, tiền xăng 100,000, điện nước 50,000, như vậy không còn gì để ăn, nhà nước không muốn tôi chết đói, nhưng trả lương chết đói, bắt buộc tôi phải tìm kẽ hở để moi ngân sách hoặc ăn của đút.
Cán bộ, công nhân viên nhà nước còn có ngân sách để moi, nhân dân để xách nhiễu đòi đút lót. Công nhân làm việc ở các hãng xưởng tư nhân và nước ngoài, ngoài đồng lương cố định, không còn chỗ để moi, đành phải làm việc cật lực, tăng ca chết bỏ. Trong “Đồng lương đói” của Người Lao Động 15/01/2006: Minh, 1 công nhân của 1 công ty nuớc ngoài ở Biên Hoà, cầm 600,000 đồng lưong mà miệng méo xệch: “Bạn em bảo mày đi làm cho ngoại quốc gì mà không bằng tao đi bán vé số! “Còn Phượng, 1 công nhân may thì chua chát:” Có lãnh đạo hay giám đốc nào thử cầm 600,000 đồng thuê nhà sống trong thành phố này một tháng xem sao? “ Không bổng lộc nên túng thiếu, càng túng thiếu càng lăn lưng bám vào việc để rồi vẫn túng thiếu.
“Tụi em nhiều lúc đói đến hoa mắt, nhưng cứ nghĩ đến cảnh nghèo khó của cha mẹ, em út ở quê lại không dám cầm tiền đến chợ”. Hòa kể lúc mới lên thành phố cô nặng 47kg, nhưng bây giờ cân cả giày dép mới tròn nổi 40kg. Bạn bè cô ai cũng sụt ký với đủ thứ bệnh tật ho hen triền miên.
“Biết sức mình càng ngày càng cạn kiệt dần, nhưng phải cắn răng thôi anh à. Than với công ty cũng chết, mà không đi làm cũng chết”. Hòa tâm sự nhiều bạn bè của cô khi báo bệnh với công ty đã được “lặng lẽ” cho về quê nghỉ việc vĩnh viễn mà không được trả bất cứ một chế độ (bồi thường) nào. Ngồi nhìn những cô công nhân tiều tụy sau giờ tăng ca đến gần nửa đêm cúi mặt lùa cơm với rau muống luộc chấm muối xả ớt, không ai dám nói ra nhưng có thể thấy trước được viễn cảnh của họ. Những số phận đó chỉ là một phần trong hàng vạn công nhân đang vắt kiệt sức lực để tồn tại với đồng lương chết đói giữa thời buổi giá cả leo thang từng ngày như hiện nay.
Nhiều chủ doanh nghiệp tổ chức tăng ca liên tục hằng tháng trời nhưng lại nghĩ ra đủ cách để không phải trả tiền phụ trội . Các cơ quan chức năng phát hiện nhiều doanh nghiệp nghĩ ra một “tuyệt chiêu” để ép công nhân tăng ca. Đó là đặt ra khoản tiền chuyên cần. Theo thỏa thuận trên hợp đồng lao động, Công nhân bảo đảm đủ 26 ngày công/tháng sẽ được hưởng khoản tiền chuyên cần (từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/người/tháng). Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đã tự “phá lệ” bằng cách ép buộc công nhân phải làm đủ 30 ngày công/tháng thì mới được hưởng trọn khoản này.
Báo Lao động số 271 ngày 02/10/2006, trong “Thu nhập thấp, đời sống khó khăn” có chú ý tới ngành chế biến thuỷ sản tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long: Là vùng kinh tế thủy sản trọng điểm của cả nước, các công ty chế biến thủy sản xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long thu hút hàng chục ngàn công nhân lao động vào làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp.
Tạo ra việc làm cho lao động - đa số từ các vùng nông thôn - song, với những khó khăn trong sản xuất kinh doanh và một số nguyên nhân khác, hiện đời sống của không ít công nhân ngành chế biến thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long rất khó khăn khi phải đối mặt với tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp, chưa có chỗ ở ổn định. Tình trạng ở các xí nghiệp khác trực thuộc Công ty thuỷ sản xuất khẩu Kiên Giang cũng dẫn tới đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn gay gắt. Để có việc làm cho họ, xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu An Hoà phải làm gia công cho một số công ty tư nhân. Thu nhập của công nhân bình quân chỉ 600.000 đồng/tháng. Tương tự, từ đầu năm tới nay doanh thu của đơn vị và thu nhập của công nhân ở xí nghiệp chế biến thủy sản Kiên Giang giảm gần một nửa so với cùng kỳ năm trước.
Đối với trẻ em, những mảnh đời có lưong không lậu còn tồi tệ hơn nhiều. Phóng sự của Tuổi Trẻ 26/10/2006: Bán sức, bán cả tuổi thơ với 2 bài : bài 1: Những đứa trẻ lầm than. Bài 2: Nhọc nhằn manh áo bát cơm. Có những em nhỏ đang ngày đêm mòn mỏi trên khắp nẻo đường TP.HCM để ăn xin với khoản tiền công được trả 300.000 đồng/tháng. Đằng sau những tấm thân còm cõi của các em là những kẻ “chăn người” bất lương.
Đêm về, tiếng cười nói ngả nghiêng, ánh đèn hắt sáng từng bàn nhậu khu vực bờ kênh Nhiêu Lộc. Đôi chân cậu bé còi như hai ống xương lê bước trên đường. Em giơ chiếc nón bẩn xin ăn. Bề ngoài cậu bé không hơn đứa trẻ 7 tuổi dù em cho biết mình đã 12. Ai hỏi chuyện, cậu cũng lí nhí: “Em tên Quang, 12 tuổi, ở Quảng Xương, Thanh Hóa. Vào đây xin ăn với mẹ và bà”. Quang cũng như hàng trăm trẻ em khác đang được một số đầu nậu “chăn dắt” ăn xin đưa vào Sài Gòn, tất cả đều có câu trả lời thuộc nằm lòng, đều nói một nội dung na ná.
Các em nhỏ đi xin ăn cho biết mỗi ngày phải kiếm được trên 50.000 đồng, có ngày gặp may thì 100.000-200.000 đồng. Trung bình một tháng các em xin được khoảng 4-5 triệu đồng. Tuy nhiên, khách có cho 1.000 đồng hay tới 100.000 đồng các em cũng không vui vì tất cả đều bị chủ “chăn dắt” thu trọn. Hằng ngày các em phải dậy để đi ăn xin từ sáng sớm đến nửa đêm nên em nào cũng ốm o gầy mòn và thiếu ngủ trầm trọng.
Có những em khác không đi xin ăn , lại bị bóc lột thậm tệ trong nghề may gia công. Một bà mẹ nghèo từ Yên Bái lặn lội vào Sài Gòn để đón đứa con 13 tuổi về. Khó khăn lắm, cậu bé mới mượn được điện thoại gọi cho mẹ để kêu cứu. Lang thang ở thành phố xa lạ nhiều ngày bà mẹ mới tìm được con. Nghỉ việc giữa chừng, công sá mấy tháng trời bị phủi sạch, cậu bé chẳng được trả một đồng lương. Trong khi đó túi bà mẹ cũng hết sạch tiền. Không có tiền mua vé, hai mẹ con chỉ biết dắt nhau ra ga Sài Gòn ngồi khóc. Câu nói nằm lòng của giới chủ với gia đình các em: “Chúng tôi đưa cháu vào Sài Gòn học nghề may, các cháu có được cái nghề, còn được nuôi ăn ở đàng hoàng”. Cha mẹ các em vì quá khó khăn mà phải nhắm mắt cho con đi kiếm sống. Nhưng họ không hình dung được rằng con mình phải vất vả đến nhường nào.
Thủ đoạn của các ông chủ, bà chủ là trả lương mỗi năm một lần. Thường các em được trả lương 4-5 triệu đồng một năm. Em nào làm chưa đủ năm, nghỉ ngang thì mất trắng. Vì vậy, dù bị ngược đãi, đánh đập hoặc làm việc quá sức, không em nào dám nghỉ việc hay đi tố cáo. Đất Sài Gòn không có người thân, nghỉ làm lấy tiền đâu về quê, liên lạc với gia đình rất khó khăn.Bên đống vải vóc và quần áo may xong chất như núi, một cậu bé khoảng 11-12 tuổi đang thoăn thoắt may như một cái máy. Cậu bé này làm ở công đoạn ráp đồ thun. Cậu bé nói chuyện mà tay vẫn làm việc một cách thuần thục, mắt không rời máy. Các em cho biết mình làm việc từ 7 giờ sáng đến 1 giờ đêm mỗi ngày, tiền công khoảng 5 triệu đồng một/năm. Nếu hàng nhiều có thể làm đến 3 giờ sáng. Tất cả các em đều “tự khai” là cháu của chủ cơ sở. Chủ cơ sở cho biết nuôi khoảng 16 đứa... cháu và con, tuổi 10-16. Chỉ có điều quê của các “cháu” thì mỗi đứa một phương, em này ở Bắc Ninh, em nọ ở Hà Tĩnh, Thanh Hóa...Nghe giờ giấc làm việc của các em, nhiều người không khỏi giật mình. Bé Hợp, 11 tuổi, quê Bắc Ninh, thật thà kể: “Em ăn tối bữa cuối là sau 1 giờ sáng. Sau đó đi ngủ đến 6 giờ sáng thì dậy và ăn uống rồi làm việc tới nửa đêm. Ăn mì tôm hai bữa sáng và khuya, trưa chiều mới được ăn cơm”. Tuổi thơ thế giới , tuổi của vui chơi, học hành. Tuổi thơ các em VN, tuổi của nhọc nhằn, manh áo, bát cơm.
Những mảnh đời lao nô không lương không lậu
Tuy vậy, những mảnh đời lưong lậu trên còn có cái nhét vào miệng. Những kẻ trấn lột họ vẫn còn là những đồng hương cùng một tiếng nói còn chút tình người. Có những mảnh đời khác đang bị lừa gạt thành kẻ lưu vong , bị biến thành thân nô lệ từ thể xác tới tinh thần và vật chất , lại còn bị lũ ngoại bang đối xử không hơn một con vật. Chị Lê Thị N., quê Nam Định, làm công việc chăm sóc một cụ già 82 tuổi và 3 đứa trẻ trong một gia đình có tổng cộng 9 người ở Đài Loan. Chị kể, chị phải thức khuya, dậy sớm, làm việc quần quật, mỗi ngày chỉ chợp mắt được khoảng 3-4 tiếng đồng hồ, nhưng vẫn không làm chủ vui lòng. Bà chủ thường xuyên chửi: "Mày gọi điện bảo công ty mày đưa mày về nước đi". Kiệt sức và bị đối xử thậm tệ, nên ngày mùng 3 Tết Bính Tuất chị bỏ trốn, 4 tháng sau thì bị bắt. Khốn khổ nhất là trường hợp của Phạm Thị Đ. Gặp chúng tôi, Đ. rưng rức khóc và khẩn cầu chúng tôi giúp cô một công việc... bất khả thi: "Các anh chị giúp đưa chúng em về Việt Nam. Ở đây nhục nhã lắm!".
Đ. sinh năm 1981, là chị cả của ba chị em một gia đình nông dân nghèo ở huyện Nương Tài - Bắc Ninh. Tháng 4/2003, Đ. được một công ty xuất khẩu lao động ở Hà Nội đưa sang Đài Loan giúp việc cho một gia đình ở Đài Bắc. Theo hợp đồng, mức lương tối thiểu của Đ. không dưới 15.840 Đài tệ (NT$) - mức lương tối thiểu của một lao động nước ngoài làm việc tại đây, tương đương hơn 7 triệu đồng VN. Nhưng cô bảo, thực tế không phải vậy: tháng đầu chủ chỉ trả 650 NT$, tháng kế tiếp được hơn 1.000 NT$. Đ. phản ứng thì "bị chủ chửi mắng, dùng tay cào vào cổ, 2 lần dùng thìa múc canh đánh vào đầu và đe dọa đuổi việc", Đ. nói. Sợ quá, Đ. bỏ việc đến Đài Trung... làm chui. Nhưng cuộc sống chui nhủi, luôn phải lánh mặt đồng hương, không biết bị bắt lúc nào không thể cứ kéo dài mãi, nên ngày 16/2/2006, Đ. ra đầu thú để mong có cơ hội trở về VN vì hộ chiếu đã bị chủ giữ. (Trích “những đồng hương giấu mặt” báo Thanh Niên 21/10/2006)
Trong “Đường về không thong thả” ngày 31/10/2006 , tờ SàiGòn Giải Phóng đưa lên một phóng sự: chỉ riêng tỉnh Thanh Hoá có tới trên 4000 phụ nữ VN bị bán sang Trung Quôc làm vợ hoặc mại dâm. Trong số chỉ 2300 có thư phản hồi (về cho gia đình), còn 1700 bặt vô âm tín. Mảng đời của chị Nguyễn thị Thường là một điển hình: chị Nguyễn Thị Thường (thôn Bắc Thọ, xã Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hoá) vừa khóc sướt mướt, vừa kể: “Em nghe Trần Thanh Đoàn (cùng xã) hứa đưa lên Bắc Thái làm công nhân hái chè với mức lương cao nên gửi lại con cho bố đẻ rồi khăn gói lên trên ấy”.
Chưa bao giờ ra khỏi cổng làng nên khi tên Đoàn dẫn chị Thường qua Trung Quốc rồi nhận mấy ngàn nhân dân tệ từ tay mụ đàn bà béo trùng trục, chị Thường mới biết mình bị lừa. Hơn một tháng bị giam trong căn phòng 4m2, một nông dân ở tỉnh Quảng Tây (TQ) đã mua chị Thường về làm “vợ”.
Tiếng là lấy chồng nhưng ngay ngày đón dâu, Thường đã bị o ép và kinh tởm nhất là ngay cả cha chồng, em chồng cũng nhìn chị bằng cặp mắt thèm muốn.
Từ địa ngục trở về, chị Thường thất thần mô tả cảnh làm “vợ”: “Em như con vật để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của ba cha con nhà chúng thôi các bác ạ. Đứa con gái thứ nhất, em cũng không biết cha nó là ai trong số 3 tên nông dân dâm loạn nọ. Đau đớn nhất là khi em mang thai bé gái thứ hai, những người tàn ác đó đang tâm bóp mũi cho đến khi cháu tắt thở bởi không đáp ứng được mong muốn có đứa con trai để nối dõi. Em chết ngất mấy lần, tự tử mấy lần mà không chết được!”.
Xã Ngư Lộc không riêng gì nạn nhân Nguyễn Thị Thường mà có tới 127 chị em bị lừa bán ra nước ngoài. Đau xót nhất là trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Th. ở thôn Chiến Thắng. Vợ ông Th. cùng ba đứa con gái bị lừa bán qua Trung Quốc đã hai năm nay, đến giờ vẫn chưa có tin tức. Ông Th. hàng ngày thẫn thờ như người điên, suốt ngày khóc gọi tên người thân. Số người có thư hồi âm thì số phận cũng không khá hơn: Do ràng buộc tình mẫu tử nên chị em chỉ có thể về VN thăm họ hàng ít buổi rồi lại dứt áo ra đi vì “nhớ con ở bên ấy”.
Số chị em bị ngược đãi, xâm hại nhân phẩm, khi “vượt ngục” trở về nước lại gặp không ít khó khăn, gia đình bố mẹ chồng con ruồng rẫy, cán bộ quan chức hành chính khó dễ hộ khẩu, một số bơ vơ lạc loài, rất khó khăn trong việc tìm kế sinh nhai, chưa kể dư luận xã hội đâu phải lúc nào cũng sẵn sàng bao dung, sẻ chia với những cảnh đời không may mắn. Nhiều trường hợp khi về nước không có nơi nương tựa, thiếu tư liệu sản xuất, không đủ tư cách pháp nhân để vay vốn hoặc xin đất làm nhà, thậm chí không đăng ký được khai sinh cho “những đứa con lạc loài”. Thật là về cũng dở mà ở cũng thua.
Những mảnh đời chùm gửi thuê bao.
Trở lại với những mảnh đời trong nước, những mảnh đời đang sống kiếp tầm gửi , làm gái bao, bồ nhí cho các quan chức của đảng và nhà nước lắm tiền và đầy thế lực, cùng các đại gia phất lên nhờ móc ngoặc với đám quan chức trên , đồng thời làm giàu nhanh chóng qua sự bóc lột tàn tệ tài sản nhà đất và sức lao động còm cõi của người dân nghèo khổ..

Có một ngoại hình dễ coi, tiếng thời thượng trong nước gọi là các em” chân dài”, phải mang kiếp cầm ca, đêm đêm phòng trà, mang tiếng hát và cả tấm thân mình để mua vui cho đời, cho người. Người ở đây là những quan lớn túi đầy đô la, miệng hà ra lửa. T.T. là một trong những kiếp cầm ca sống tầm gửi bên một ông S., chủ đại gia một cơ sở sản xuất ở Bình Chánh, Sài Gòn. Không biết ca hát nhưng theo yêu cầu của ông S., cô vẫn gượng bước lên sân khấu. T. cố lắm cũng chỉ vừa xuống hết câu vọng cổ… rồi nín bặt. Thấy vậy, ca sĩ Y.N liền “cứu bồ” bằng cách cả hai cùng song ca bài vọng cổ “Lá trầu xanh”. “Đại gia” S. vẻ phật ý. Ông lên sân khấu tặng hoa, nhưng riêng T. T là tờ bạc 10.000đ cuộn tròn xỏ qua chiếc lá bàng ( ý muốn chửi là đồ xỏ lá?) .
Bị mất mặt với mấy chiến hữu từ Vũng Tàu mới đến, ông đâm bực: “Con nhỏ này bữa nay dám giở trò với tao. Tính tiền đi chỗ khác…”. 26 tuổi, T. T đã có thâm niên hơn 10 năm phục vụ ở quán nhậu, rồi tiếp thị bia… ở các quán từ quận 6, 11, Tân Bình, Bình Chánh… T chỉ sang hai cô gái phục vụ bàn bên cạnh: Tr. là em ruột, P. là bạn. Mới chút vui, giọng T. chợt buồn: “Cũng cay đắng trăm bề chứ có khá hơn gì đâu chị”. T kể, nhiều ông khách vào quán là đòi tiếp viên ngồi bên cạnh, rót bia, gắp mồi, lau mặt lại còn… “khám” khắp người. “Cũng như lúc nãy, không biết hát cũng phải hát đại. Mà ổng đã vừa lòng đâu”, giọng T. ấm ức.
Đó là mảnh đời của T. trong “ Phận gái nghèo và đời thuê bao” ( Sài Gòn Giải Phóng 10/10/2006).
Những mảnh đời bám víu vỉa hè sinh sống
Đây là những mảnh đời lộ thiên, mảnh của cuộc đời muôn mặt, kiếm sống trên các vỉa hè của các thành phố thị xã. Buôn gánh bán bưng, bán vé số dạo, thuốc lá lẻ, trà đá , giải khát có, phu khuân vác gồng gánh có, và có cả moi rác kiếm ăn.
Mảnh đời bám đường bám chợ.
Trước hết nói về cửu vạn, tiếng lóng miền Bắc để chỉ những người làm nghề phu khuân vác. Chúng ta thường được nghe nói nhiều về cửu vạn trên những con đường buôn lậu băng qua biên giới với lối sống giang hồ rất gian nan nguy hiểm. Ở đây chỉ xin đề cập đến những cửu vạn bình thường đang hành nghề một cách lưong thiện ngay trên phố thị. Những cửu vạn qua bài phóng sự “ Nữ cửu vạn” trên báo Thanh Niên ngày 29/12/2005. Tại một góc của khu chợ Đồng Xuân tấp nập người, chị Đinh thị Thái, 1 trong số cả trăm nữ cửu vạn của thành phố Hà Nội đang chuẩn bị cho một ngày làm việc: Đòn gánh và dây thừng trên tay,sẵn sàng trong việc khiêng vác, gánh hàng thuê cho khách đi mua sắm hay bốc rỡ hàng hoá cho các chủ sạp bán . Chị Thái khoảng 30, khăn len ngang trán, nón cũ trên đầu, cố lần từng bước một xuống cầu thang từ lầu ba để ra cổng chợ với một bao bố to tướng trên vai khiến chị phải oằn lưng khom xuống, thỉnh thoảng có người qua lại va phải làm chị liêu xiêu lảo đảo. Cuối cùng, bao tải hàng cũng đến được đích, vừa đưa tay nhận mấy nghìn đồng bạc vừa thở hào hển. Quê chị mãi ở Hà Tây, nhà có 2 vợ chồng và 3 đứa con, những lúc nhà nông không có việc, chị phải cắp đòn lên Hà Nội gánh thuê để có tiền trang trải cho cuộc sống hàng ngày và học phí cho con. Mỗi chuyến hàng chỉ kiếm được từ 500 đồng đến nhiều nhất là 5000. Chị bảo, tuy ít và vất vả nhưng vẫn phải làm, ở quê thì chẳng biết làm gì kiếm ra được mỗi ngày vài chục ngàn . Công việc cực nhọc, tiền làm ra ít, nhưng phải tiết kiệm đến mức tối đa vì còn phải gửi về quê nuôi con. Ngoài nỗi vất vả mưu sinh, họ còn phải chịu nhiều điều tiếng, đôi khi bị đối xử thô bạo. Chuyện các nữ cửu vạn bị chửi, bị sờ soạng, bị bạo hành, xua đuổi bởi những chủ hàng diễn ra như cơm bữa, vì có một số người có tính ăn cắp vặt hay lấy đồ của khách. Cuộc đời bốc vác không những chỉ chồng chất những vất vả của đời sống mà còn ấm ức vì những đối xử bất công.


Mới 35 tuổi nhưng chị Nguyễn Thị Liên (Đông Anh, Hà Nội) đã hằn sâu nét khắc khổ của một người có tuổi. Đôi mắt tối sẫm lộ ra sau vành khăn bịt kín khiến dáng vẻ chị càng tiều tuỵ. Ngồi bên đống quang gióng cũ kỹ chưa có người mở hàng, chị buồn bã kể: "Ở quê, đất vào quy hoạch hết, ít ruộng lắm, xong mỗi vụ không đủ tiền chi tiêu, nộp học hành cho con nên xuống đây kiếm kế sinh nhai. Cực nhọc một chút nhưng một ngày cũng kiếm được dăm bảy chục nghìn cho con ngày hai bữa và đến trường...".



Với dân làm nghề gánh thuê, được gọi đi làm là hạnh phúc lắm rồi, kể chi mệt nhọc. Nên 1.001 việc, từ gánh hàng (thường là đất đá), chở cát, xi măng..., thậm chí đập nhà, họ đều nhận làm,
bất kể nắng hay mưa, ngày hay đêm. "12h đêm hay 1h sáng họ cần mình vẫn làm.


Mảnh đời ôm bến xe, hít bụi đường.
Nguyễn thị Xuân Đào, 28 tuổi đời, 10 tuổi bám đường, nhà ở ngay ngã ba Cát Lái, , bán giải khát, thuốc lá lẻ, kẹo bọc, khẩu trang, găng tay che kín mặt, ngồi chịu trận nắng gió từ 4 giờ sáng đến 9 – 10 giờ đêm. Đến khi nhà nước giải toả mở đường, nhà bị mất phải bồng con đi thuê chỗ ở. Chồng bỏ theo vợ bé, để lại dăm món nợ, nên từ người sở hữu 2 chiếc xe dream và chút ít vòng vàng trở thành trắng tay. Đào không còn cách nào khác ngoài việc xách giỏ về lại ngay chỗ nhà ở của mình bị giải toả để buôn bán qua ngày. Khi trước, Đào ở Cần Thơ, vì muốn trốn cuộc sống mần ruộng, quanh năm chân không dầm nước , nên quyết lên thành phố lập nghiệp để chân được đi dép. Từng làm công nhân ở khu chế xuất Liên Trung, tăng ca liên tục mà lương chưa đầy triệu bạc, không đủ nuôi con,phải bỏ hãng xưởng. Đào bây giờ buôn bán lặt vặt, thu nhập chỉ đủ cho nhu cầu tối thiểu vì vừa phải thuê nhà(hơn 100,000/tháng), vừa phải thuê người trông con(300,000/tháng). Chị than: không săm sửa gì cho riêng mình, chỉ dám bỏ tiền mua bông băng cho những ngày thấy tháng. Giá mà không có “khoản ấy” thì cũng chẳng cần gì. Phải để tiền nuôi con.
Phạm thị Hoa cư ngụ tại quận 9 có khá hơn. Chị có đươc một chiếc xe nước ngọt đầy bụi băm ngay ngã tư Thủ Đức, xe không có được cái dù để che mưa nắng, cái nắng nhiệt đới cháy da người. Vậy mà chị cũng rất buồn: bán ở đây khổ lắm, tới bữa không nhờ được người phụ coi hàng thì phải nhịn ăn, mót tiểu cũng phải nhịn . Khổ nhất vẫn là nơm nớp lo sợ sự xuất hiện của công an giao thông. Mấy tháng hè, thằng con được nghỉ học phải theo mẹ ra xa lộ làm” cảnh giới “cho mẹ. Lúc nào nó cũng “chơi” cái áo màu xanh đọt chuối để mẹ dễ nhận thấy từ xa. Đang bán hàng mà thấy nó hớt hải chạy tới túm lấy mấy cái ghế nhựa quăng bừa ra tứ phía để xoá hiện trường, nguời mẹ vội lật đật đẩy xe đi “ Mấy ổng tới đó!”. Chị thều thào. Tội nghiệp cho chị, kiếm được bát cơm vất vả giữa trời thiêu đốt mà phải lấm lét như người ăn trộm. Có lẽ chị đang trộm lấy những vất vả trong cuộc sống và tương lai của mẹ con chị?
Mảnh đời dạo nát phố phường.
Ngay bên vệ đường, dưới chân cầu Sài Gòn, bà cụ Nguyễn thị Phước, 67 tuổi, quê ở Thanh Hoá, bày biện 1 cái thùng xốp trên đó có mốt mớ vé số, bên cạnh là đứa cháu gái 4 tuổi ngồi đu đưa trên cái võng cũ mèm. Thân già một mình phải nuôi 2 đứa cháu mồ côi: con bé Quỳnh 4 tuổi và thằng Tuyên, anh họ của nó 12 tuổi. Bà bám tàu vào Nam kiến ăn đề lại một mình thằng Tuyên ở quê đi học. Tiền bà gửi về cho nó tháng đực tháng cái, lúc được trăm nghìn,lúc chỉ hai ba chục. Vậy mà thằng bé vẫn học được., sống được. Hè đến, nghỉ học, nó nhảy tàu vào Nam giúp bà buôn bán. Ế ẩm thì ba bà cháu dắt díu nhau đi bán dạo dài đường. Bà cụ đã già chỉ đi dạo quanh quẩn gần đó. Thằng Tuyên khoe đi bán dọc theo xa lộ Hà Nội đến tận Suối Tiên, nó bảo cố để dành tiền hết hè lại về quê đi học, không ở đây lâu.. Bà cụ bảo: “ tôi nghèo . phải lấy chịu vé, bán được đồng lời thì trả. Có khi cháu nó bị bọn xấu lưà đổi vé cũ, có hôm lại đánh rơi tiền. Làm mất thì mấy bà cháu nhịn ăn”., Ba bà cháu lam lũ đang tìm cuộc sống trên những đôi chân khẳng khiu , đi rạc cẳbg, dẫm nát đường để tìm hột cơm.”.
Mảnh đời bới rác mưu sinh.
Có những mả Lại có những mảnh đời kiếm sống bằng chuyện đi mót lại những đồ phế thải của xã hội, đó là những người mót rác. Báo Lao Động trong số 295 ngày 26/10/2006 có bài phóng sự “một ngày đi mót rác” tường thuật có hàng trăm người đang từng ngày phải bám vào bãi rác Nam Sơn , thuôc Sóc Sơn , Hà Nội để tìm miếng cơm manh áo. Đó là câu chuyện bên suối Cầu Lai của những mảnh đời ngập rác. Mặc dù thành phố đã ra quyết định đóng cửa bãi bắt đầu từ ngày 20.9 nhưng có lẽ vì chưa giải quyết công ăn việc làm cho người dân nên quyết định đó vẫn chưa có hiệu lực. Vì thế hàng đêm, hàng trăm người vẫn túc trực để được vào "mót" nốt những phần của cải mà người ta đã ném đi. Với nhiều người, vào bãi rác còn là tìm kiếm một vận may,họ kể về nhiều trường hợp lượm được cả tiền triệu bằng một sự hăm hở như thể cứ "đi bãi" rồi thế nào cũng số đỏ., gặp may.
3 giờ bãi rác mới mở cửa nhưng từ đêm, đủ cả đàn ông đàn bà, mà rất đông trong số đó là những thanh niên độ tuổi 20 từ mọi ngả đổ về ngồi chật cứng cả đường. Các vụ mùa bây giờ chỉ vài ngày đã hết việc, nên dường như cả năm họ quần quật trên bãi rác.Có đến 800 người như thế, có cả dân tứ tán từ nơi khác tới nhưng phần lớn vẫn là nông dân ở quanh vùng, đa số thuộc xã Bắc Sơn. Moi người hành trang hầu như giống nhau:cào sắt và bao tải trên tay, chân đi ủng, trên trán đội một cây đèn trùm đươc thắp sáng bằng một bình ắc qui đeo ngang hông. Mùi rác nồng nặc bốc lên xộc vào mủi vào miệng làm muốn ói. Họ có thể mót được đủ thứ: Từ những cọng rau, những vỏ hộp nhựa, chai lọ, túi bóng, quần áo hỏng đến những thanh gỗ sẽ được dùng làm củi. Ngay cả xác những con chó, con mèo bị người ta quăng đi, dân đi bãi cũng lượm về làm "đồ nhậu" (!?). Những thân hình còng queo và gầy rộc cứ nhấp nhổm lên xuống, tì sát cả mặt xuống để bổ lưỡi cào vào đống rác lớn rồi moi móc ra các thứ đồ tận thu.. Thật là khắc nghiệt vì phải đổ bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, những tấm thân cứ mòn dần đi mới có được miếng ăn ở nơi dơ dáy nhất của xã hội... Thật khó có thể tưởng tượng , qua sự lao lực của họ, đến sáng hôm sau, những đống rác lớn như nóc nhà rồi sẽ được san phẳng. Duy chỉ có những bao tải là mọc lên thuôn dài như cây nấm, lèn chặt, có những cái nặng đến 60-70kg. Chúng sẽ được bán lấy tiền ngay và cũng được chi tiêu ngay cho mọi khoản sinh hoạt gia đình.

Theo tính toán của anh Ngô Văn Sỹ, một người "có nghề" đúng 7 năm ở thôn Lương Đình, xã Bắc Sơn thì thu nhập của những người "đi bãi" như vợ chồng anh trung bình mỗi ngày cũng phải được 50.000 đồng/người, tính chung cho cả bãi mỗi ngày vẫn còn chắt chiu được cho những người dân nghèo số tiền không hề nhỏ: ẹ nhất là 50 triệu đồng. "Nếu đóng cửa bãi thì mỗi ngày sẽ chôn phí 50 triệu, trong khi vợ chồng tôi sẽ thất nghiệp vì cả nhà 4 miệng ăn mà chỉ có hơn 1 sào ruộng"

Và…những mảnh đời đang bị bỏ quên .
Họ là những kẻ tật nguyền, những người bị đối xử bất công vì quá khứ và sự mất khả năng lao động của họ: Thương phế Binh VNCH. Những con người và dữ kiện trích từ “Sài Gòn lẩm cẩm thiên hạ sự”số 167 – 169 ngày 06/8/2006 của nhà văn miền Nam Văn Quang:
- Anh Nguyễn Đức Thắng, trước đây thuộc Tiểu đoàn 33, Liên đoàn 92 Biệt Động Quân. Bị thương cụt cả hai chân, ngày 28-3-1975 tại Dầu Dây, Long Khánh. Hiện nay anh ở 57/32, Phường 5, Quận 8- TP. Sài Gòn. Vợ chồng con cái anh cũng chẳng có nhà, dù chỉ là một mái lá đơn sơ cũng là nhà anh ở thuê. Vợ anh đi bán khóm trước vài cái cổng trường, kiếm tiền nuôi con đi học. Khi nào gặp bảo vệ hoặc mấy thầy cảnh sát đuổi thì ôm thúng khóm chạy.
- Anh Lư Bửng thuộc ĐĐ 22, TĐ 2, SĐ Dù. Bị thương ngày 20-7- 1972 tại Đồi trọc 81, Quảng Trị. Cụt 2/3 chân phải, bể bánh chè chân trái.Trường hợp của anh rất bi đát, vì sau một thời gian đi vùng kinh tế mới, vợ anh bị mù cả hai mắt. Chúng tôi gặp cả hai anh chị đèo nhau trên chiếc xe gắn máy, mang theo chiếc xe lăn phía sau. Trong cơn hoạn nạn, người ta phải cố hết sức sáng tạo ra cách sinh tồn để người què cả hai chân vẫn tập luyện để có thể leo được lên chiếc xe gắn máy. Đúng là một cảnh khá ly kỳ, anh chồng cụt đèo cô vợ mù, lang thang kiếm sống. Chị vợ hỏi chồng: đây là đâu. Anh chồng diễn tả gọn gàng: mình đang ở sân nhà thờ, còn đây là ông bạn cũ của anh. Chị vợ gật gật, chẳng biết chị hình dung ra cái khung cảnh ấy như thế nào. Chị cười, khuôn mặt rạng rỡ, nhưng đôi mắt trắng dã thì bất động. Tôi hỏi thăm, chị thuộc lòng địa chỉ của mình: Chúng em ở số 171/5, Khu phố 6, Phường …, Quận …, TP. Sài Gòn.
- Anh Trịnh Văn Thanh, thuộc ĐĐ 9 Trinh sát, Trung đoàn 9 Sư Đoàn 25 BB. Bị thương ngày 19-1-1974 tại Bến Cát- Binh Dương, cụt cả hai chân. Mỗi lần đi đứng đều phải nhờ người bế ẵm. Tuy vậy, nhìn vẻ bề ngoài, anh còn bảnh bao lắm. Hỏi về gia đình, anh cho biết bố mẹ mất sớm và đến nay vẫn chưa có vợ con gì. Anh mỉm cười, cam chịu với số phận: Nghèo và cụt, ai thèm lấy hả anh?. Câu hỏi buồn, tự nó cũng là câu trả lời. Hiện nay anh sống nhờ nhà bà cô họ ở số 1/5 đường…, Phường …, Quận…. TP. Sài Gòn.
- Anh Nguyễn Phương, trước đây anh mang cấp Thiếu Úy, phục vụ tại Phòng 7- Nha Kỹ Thuật. Anh bị thương ngày 20-2-1975 tại An Lỗ - Huế. Hai chân và 5 ngón tay trái bị cưa cụt. Ngày nào khỏe mạnh, anh đi bán vé số, nhưng từ ngày vé số lên giá, rất ế khách, cả gia đình phải trông nhờ vào người vợ bán bánh canh di động ngoài lề đường. Chỉ có 2 đứa con được đi học, còn đứa lớn ở nhà gồng gánh giúp mẹ. Hiện nay anh ở số A 27/4 Đường …, Phường…, Quận…, TP. Sài Gòn.
- Anh Ngô Văn Nhường, không còn một thứ giấy tờ gì, nhưng hầu hết anh em Thương binh ở đây đều biết. Anh là quân nhân thuộc TĐ 3, TQLC, bị thương ngày 28-1-1973 tại Triệu Phong, Quảng Trị. Cụt cả hai chân. Tôi hỏi hiện nay anh ở đâu, anh lắc đầu: Ngày đi lang thang, tối về ngủ ở nghĩa trang Bình Hưng Hòa, làm gì có địa chỉ.

Vậy muốn tìm gặp anh, phải làm sao? Anh lại lắc: Em cũng không biết nữa. Chỉ có anh em thương phế binh với nhau, chịu khó đi quanh quanh mấy cái vùng Bình Hưng Hòa mới gặp em thôi. Tôi nhờ Hàm Anh đưa tặng anh 2 triệu, anh mân mê chiếc bì thư và kể: chưa ai cho em nhiều như thế, cách đây 2 năm, em chỉ được Hội đoàn Nhảy Dù ở Canada tặng cho 50 đô la là em mừng lắm rồi. Tôi băn khoăn hỏi: Nếu gửi quà cho anh, thì gửi thế nào? Anh suy nghĩ một lát rồi nói: hay là anh cứ gửi anh Phúc cho em là được rồi. Anh ấy sẽ nhờ người đi tìm em thì thế nào cũng ra.
- Anh Phan Đức Du ngồi lặng lẽ với đôi mắt mù hoàn toàn, mái tóc bạc hơi cúi xuống bên đầu chiếc gậy tre. Trước đây anh thuộc ĐĐ 81, TĐ 8 Nhảy dù. Bị thương tháng 2 năm 1972 tại Bình Long - An Lộc. Hiện nay anh đang sống trong túp nhà tranh tại số 2/B, Ấp …, xã …, Huyện …, TP. Sài Gòn. Đôi khi anh cũng nhận được sự trợ giúp mà theo anh biết đó là tổng hội TQLC ở Mỹ. Tôi cũng cho anh biết số tiền này là cũng do một người bạn đồng ngũ của anh, trước kia ở binh chủng TQLC, nay ở tòa soạn báo Houston, được bà con, anh em ở bên đó gửi về tặng anh.
- Riêng anh Phạm Văn Bé bị liệt, không thể đi được, tôi phải nhờ anh Bảo đưa đến 2 triệu làm quà tặng. Trước đây, anh thuộc ĐĐ 4, TĐ 4 -TQLC bị thương ở cột sống, nên bị liệt cả hai chân. Anh lại đang bị lở loét rất nặng, tạm trú tại số nhà 923/13 Đường …, Khu phố …, Phương …- TP. Sài Gòn.
- Những cuộc đời giữa hoang đảo

Bạn có thể hình dung ra giữa thế kỷ này có một người suốt từ hơn 30 năm nay sống giữa “hoang đảo”, mà cái “hoang đảo” ấy lại nằm sát bên thành phố Sài Gòn? Anh sống biệt lập trên một dẻo đất giữa dòng sông Sài Gòn. Tuần trước, khi tôi nói chuyện qua điện thoại với một trong số ba “người lính nhảy dù lâm nạn”, anh Phúc, người thương binh bị cụt cả hai chân, cao giọng xác định:
- Phải nói là anh ấy bị cô lập hoàn toàn với cái thế giới được gọi là văn minh này mới đúng.
- Cô lập nghĩa là thế nào? Ai cô lập anh ấy?
- Không ai cả. Anh ấy… tự cô lập mình. Mà không cô lập cũng không được. Sau ngày 30-4-75, bỏ bộ quân phục, trở về thành phố với hai bàn tay trắng. Không nhà, không một mảnh đất cắm dùi. Trú ngụ trên hè phố cũng bị đuổi, dựng cái chòi trên bất cứ một mảnh đất nào cũng là đất có chủ, không của xã ấp thì cũng của ông Ba ông Tư. Cứ dăm bữa, nửa tháng lại bị đuổi đi chỗ khác. Lang thang bên bờ sông, lối đi trên đường đến Thủ Đức, nhìn thấy một dẻo đất giữa sông, anh cho rằng miếng đất ấy không có chủ. Thế là anh nhờ thuyền chở ra, và “cắm dùi” ngay trên dẻo đất ấy. Ngày một, ngày hai, may quá, chẳng ai đả động gì đến anh.
- Và anh cứ ở đó cho đến nay?
- Vâng, ba mươi năm nay, cứ như một chàng Rô-bin-sơn giữa rừng thẳm. Từ cái chòi lá lụp xụp, anh tha từng miếng tôn, từng thanh gỗ, từng mảnh vải, từng cái lu… dựng nên một ngôi nhà.
Thì ra cuộc đời có những chuyện tưởng rằng ly kỳ, nhưng thực ra lại rất giản dị, rất dễ hiểu. Không có đất làm nhà, không nơi trú ngụ thì kiếm một miếng đất vô chủ, một miếng đất không ai thèm ở hoặc nghĩ rằng không thể nào ở được. Làm cái chòi ở tạm. Thế rồi, ở được thì ở luôn. Mà dù có muốn thay đổi cũng không thay đổi được. Lo kiếm sống còn chưa xong thì thay đổi làm sao? Hơn ba mươi năm rồi, cuộc sống vẫn thế, chẳng có cơ hội nào cho anh ngóc đầu dậy được. Vẫn cứ là anh chàng sống giữa hoang đảo với cái gia đình nghèo khó cơ cực của mình.
Đó là anh chàng Tarzan thực thụ Lê Văn Đẹp sống “hiên ngang” giữa dòng sông Sài Gòn. Trước kia anh phục vụ tại Đại đội 83- TĐ 8 Nhảy Dù. Bị thương tại mặt trận Phong Điền - Thừa Thiên ngày 23-4-1974.
Bây giờ sống với cái dẻo đất “trời cho” giữa sông, anh không có địa chỉ mà chỉ có một địa chỉ đi nhờ ở số 16, Đường …, Khu phố…- Phường … Quận…. TP. Sài Gòn. Tất nhiên anh cũng chẳng hề có hộ khẩu, chẳng có Chứng minh nhân dân và cũng chẳng thuộc khu phố nào. Một địa danh… vô danh, một con người… vô danh không địa chỉ, thế nên cũng chẳng ai quản lý anh. Anh sống “vô tư” như con cá, con tôm, giữa sông. Cứ “thản nhiên” đi về cái “túp lều lý tưởng của anh”. Nhưng anh khoe với tôi:
- Trong người em bây giờ chỉ còn mỗi cái “Thẻ Căn Cước Quân Nhân” cũ thôi anh ạ. Nó đen nhẻm rồi, nhưng không bao giờ em bỏ nó. Cái “thẻ lính” này quý lắm. Anh chìa cái thẻ ra và tôi chỉ còn thấy nó đen đỏ lốm đốm, như có mùi mồ hôi và màu máu. Nó lại khác hẳn với khuôn mặt anh lúc đó, đang nở một nụ cười hơi… có vẻ gì như “ngô ngố”, ngây thơ, song đầy tự hào, kiêu hãnh. Kiêu hãnh đến có thể cho là kiêu ngạo. Dù có thế cũng chẳng sao. Niềm kiêu hãnh ngấm ngầm ấy, tôi thấy nó có giá trị hơn là những pho tượng bằng đồng hay có bằng vàng đi chăng nữa. Tôi nhớ đến bức tượng người lính đã bị đánh sập ở Nghĩa trang quân đội hơn 30 năm trước. Nhưng không ai đánh sập được bức tượng trong nụ cười người lính này! Đó mới là điều vô giá còn lại mãi mãi
-
Và những mảnh đời không khác gì trên hoang đảo
Anh chàng đang nhâm nhi ly trà đá dưới cành me non. Mới chỉ nhìn thoáng qua, thấy anh còn có vẻ điển trai khiến nhiều “kiều nữ” có thể “bắt mắt”. Nhưng khi anh vén cao chiếc quần jean cũ mới thấy hai chân cụt của anh không đều. Một chân cụt quá đầu gối, một chân cụt ngang xương ống chân phía dưới. Anh là Huỳnh Văn Sang, thuộc ĐĐ 82, TĐ 8 Nhảy dù, bị thương tại Đồi 1062, Quảng Nam, Đà Nẵng ngày 15-9-1974. Một vết thương ở tay phải, hai vết thương ở chân đều trầm trọng.

Hiện nay anh chỉ đi sửa điện loanh quanh trong xóm gần đó. Một thứ công việc vặt không bao giờ là thường xuyên. Ai có việc gì thì gọi. Anh lê đến ngồi cặm cụi sửa, chủ cho bao nhiêu biết bằng ấy, không thể đòi hỏi vì nó không có giá. Anh cũng là dân “ngụ cư giữa sông”, ra ở tuốt ngoài cù lao. Nhờ vậy có “bạn chài” nào vớt được ít tôm cá, vợ anh đến xin mang đi bán rồi về trả lại “vốn”. Cuộc sống bữa đực bữa cái, nhà cửa tuyềnh toàng, chỉ vừa đủ che nắng, chứ khó mà trú được với những cơn mưa lớn. Gió thổi bung thì đành… mặc áo ni lông trong nhà.

Cái địa chỉ của anh, nếu là người lạ thì cũng khó kiếm ra: 41/92 Cù Lao Nguyễn Kiệu, Phường …, Quận …. TP. Sài Gòn.
* Anh Phạm Ngọc Sơn. Trước đây anh mang cấp chuẩn úy của TĐ 11 Nhảy Dù. Bị thương tại mặt trận QK1 ngày 30-11-1974. bàn tay bị co quắp lại nhưng vẫn phải cố gắng đứng trước cổng bệnh viện Từ Dũ chạy xe ôm. Tuổi ngày càng cao, anh yếu rồi song vẫn cứ phải bám lấy công việc bởi đó là cách duy nhất của anh kiếm sống.

* Người bạn có vẻ “trẻ” nhất ngồi trầm ngâm bên chiếc ghế đá công viên với lon nước ngọt là anh Tân Lưu Thanh, số quân 77/112.739, trước thuộc ĐĐ2, TĐ5 Hắc Long của Thủy quân lục chiến. Bị thương ngày 13-3-1975 tại Cầu Sắt, Củ Bi, An Lỗ, Huế. Ngày 30-4-75 anh còn nằm trong bệnh viện Lê Hữu Sanh, Sóng Thần, Thủ Đức. Nhưng ngay chiều hôm đó, anh đã buộc phải rời khỏi bệnh viện trong khi vết cưa chân vẫn còn chảy máu.

Anh về sống lê lết với gia đình, nương nhờ họ hàng. Anh đã phải làm đủ thứ việc để kiếm sống, kể cả việc phải bán máu khi cùng quẫn. 32 năm, cuộc đời đen tối cứ chụp lấy anh. Nay thì anh “sức tàn lực kiệt” rồi, anh nói với tôi:

- Em nói thật bữa đói bữa no anh ạ. Bệnh tật triền miên. Có lẽ vì bán máu quá nhiều chăng, em cũng không biết nữa. Nhưng nếu còn có thể bán được thì em cũng bán chứ nhất định không làm điều gì xấu.

Hiện nay anh ở số … đường …, F6, Q… TP. Sài Gòn.

* Anh bạn ngồi gần đó là Phạm Văn Sỏi, một con mắt bị “múc” mất sau khi trúng đạn tại mặt trận Campuchia. Khi đó anh Sỏi hành quân cùng ĐĐ 92, TĐ 9 Nhảy Dù. Hiện nay anh ở 230/7 Đường …, P.., Quận …, TP. Sài Gòn. Anh chìa cho tôi xem một số giấy gần nhất của bệnh viện vừa khám bệnh cho anh. Đủ thứ bệnh và đủ thứ thuốc phải mua. Anh lắc đầu:

- Cầm toa thuốc làm… tài liệu thôi, chứ tiền đâu mà mua. Ở nhà em còn một sấp nữa. Đây chỉ là những toa thuốc gần đây nhất. Vợ em đi làm thợ hồ, con cũng làm thợ… vác gạch, người ta sai đâu làm đó. Miễn sao có được bữa cơm cho cả nhà. Trong hoàn cảnh ấy, em đâu có dám đưa toa thuốc này cho vợ con.
Và còn nhiều nhiều những mảnh đời nữa không thể kể ra hết vì quá dài..Ai đã nói rằng đất nước mình đang thay da đổi thịt? Và cuộc sống người dân nay đã khá hơn?
Những mảnh đời Việt Nam ôi những mảnh đời tang thương… đếm từ Cà Mau dài đến Nam Quan . Ôi đếm hoài, đếm mãi không bao giờ hết…

Phương Duy
Australia, 04/11/2006

Đề tài liên quan:
- Những nghịch cảnh giữa Sài Gòn">,Đinh Tĩnh Cương & Lệ Lan.



.

Trở về từ lòng đất

Trở về từ lòng đất

Lời mở đầu: Từ cuối tháng Tư qua những ngày đầu tháng Năm vừa qua, cả nước Úc nín thở theo dõi diến tiến cuộc giải cứu hai người thợ mỏ bi kẹt dưới một mỏ vàng nằm sâu gần 1000 mét dưới lòng đất của tiểu bang Tasmania, Australia. Đây là một hòn đảo khá lớn nằm ở phía cực Nam của nước Úc, có cái tên gọi thân thương là The Apple Island ,tên gọi theo hình dạng giống như trái táo của nó hơn là nơi trồng nhiều táo. Sau khi cuộc giải cứu hoàn thành, nhiều báo chí truyền thông đã đua nhau đòi mua độc quyền câu chuyện của 2 người. Đài truyền hình số 9 Úc châu đã trả cho 2 anh tới 2,6 triệu Úc kim (khoảng 2 triệu USD) để đưa câu chuyện này lên màn ảnh của đài. Tuần qua, đài đã cho trình chiếu chương trình này với đề tài The Great Escape dài khoảng 2 giờ. Đây là phần phỏng vấn trực tiếp 2 nạn nhân vừa được cứu thoát và những người liên hệ đến công cuộc giải cứu đó.Hiện tại, 2 người đã đến New York, USA để xuất hiện trong chương trình Good Morning America và có thể cả Oprah Show. Người viết nhân cơ hội này, xin cố ghi lại một số điểm chính yếu, và mong muốn chia sẻ với độc giả, đồng bào trong nước, nhất là thành phần công nhân, nhân dân lao động về đời sống của một xã hội mở như xã hội Úc châu., nơi nhân dân cũng là những nông dân, công nhân như ở VN và các đất nước khác, nhưng mỗi sinh mạng con người ở đây đều được trân trọng, bảo vệ, và khi lâm nạn được tất cả mọi người, từ bạn bè đồng sự, chủ tư bản đến chính quyền các cấp và hầu như cả xã hội chú tâm cứu thoát tận tình bằng mọi giá. So sánh với đất nước VN thân yêu của chúng ta, khi mà sinh mạng con người bao năm bị rẻ rúng, không những trong suốt chiều dài lịch sử chiến tranh, mà tệ hơn nữa, ngay trong hơn ba mươi năm hoà bình, thân phận của người dân thường VN vẫn cứ là con sâu cái kiến. Từ những kẻ mệnh danh cầm quyền đến những tên tư bản ngoại nhân đối xử tồi tệ và vô trách nhiệm với người dân lao động nghèo khổ. Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi. Điển hình qua cơn bão Chanchu gần đây nhất, những cơ quan điều hành tắc trách trong nhiệm vụ, gây nên cái chết oan nghiệt đáng lẽ không có cho hàng trăm người dân lành vô tội. Bài viết dựa theo cấu trúc của chương trình phỏng vấn của nữ ký giả Tracey Grimshaw, đôi khi có thể có sự trùng lắp và sai sót, người viết xin quí vị thứ lỗi.
Brant Webb và Todd Russell với Tracy Grimshaw in Beaconsfield

Nguồn/Ảnh: bordermail.com.au/NINE NETWORK
Ngày của định mệnh.

Thứ Ba, ngày 25/04/2006 là một ngày lễ nghỉ ỏ Australia, một ngày nghỉ truyền thống của nước Úc. Đây là ngày lễ ANZAC. Hàng năm, vào ngày này, người dân Úc thừơng cử hành các nghi lễ (gọi là lễ hừng đông) ở khắp các thành phố và thị xã lớn trong nước, tại các lễ đài chiến sĩ để tưởng niệm và ghi nhớ công ơn các chiến sĩ Úc và Tân Tây Lan đã hy sinh trên chiến trường hoặc nằm xuống vì bât cứ lý do gì trong mọi cuộc chiến (kể cả cuộc chiến VN trước đây), sau đó là sự vinh danh các cựu chiến binh cò sống với những cuộc diễu hành gồm chính họ và gia đình trên đường phố. Vì là ngày lễ, nên các cơ quan và công xưởng đều đóng cửa, chỉ trừ các nơi cần thiết như bệnh viện, trạm cảnh sát… vì nhu cầu thường trực . Tuy thế, vẫn có những cơ xưởng, vì sự cấp thiết vẫn mở cửa làm việc. Theo luật lao động nưóc Úc, dù công hay tư sở, nếu có yêu cầu công nhân làm việc trong ngày lễ nghỉ, chủ nhân hoặc chính quyền phải trả lương gấp từ 2,5 đến 3 lần lưong trả cho một ngày bình thường. Mỏ vàng ở thị trấn Baconfield là một trong những cơ xưởng đã có công nhân của họ làm việc trong ngày ANZAC.

Buổi sáng hôm đó, có 17 công nhân đã bước vào thang máy của hầm mỏ, đi xuống làm việc dưới lòng đất. Một cơn điạ chấn xảy ra trong lòng mỏ vào khoảng trưa .Buổi chiều, 3 người trong số họ đã không trở lên lại mặt đất: Larry Knight, 42 tuổi, một người cha có ba con, gần như suốt đời làm công nhân hầm mỏ cả đời. Todd Russell, 35, củng có ba dứa con và Brant Webb,39. Todd và Brant cùng có 6 năm thâm niên thợ mỏ, biết mặt nhưng không quen nhau lắm trước đó. Ba người làm việc chung, cách bề mặt 925 mét dưới lòng đất. Công việc của họ vẫn là công việc thường ngày.

Tracey: Ngày hôm đó, các anh có cái cảm giác gì khác lạ báo trước không? Chẳng hạn như có linh tính về một tai hoạ sắp xảy đến cho 2 anh?

Todd và Brant cùng trả lời: Không, vẫn bình thường, không thấy gì hết!

Tracey: Có nghĩa là công việc như mọi ngày?Hai anh đứng làm việc trong cái lồng sắt, còn Larry ở bên ngoài chuyển đồ vào cho các anh?

Todd: Thì cũng bình thường như công việc của bất cứ hầm mỏ nào khác. Lúc nào cũng nghe thấy và nói về một chuyện đuà hay một tin đồn gì đó.

Tracey: Rồi chuyện gì xảy ra?

Todd: -Lúc đó tôi đang thử (sửa chữa) mấy cái đường dây (điện?). Một lúc, tôi nói với Brant: “gần xong rồi,hãy nghỉ tay một chút uống nước hút thuốc”. Tôi xoay người vói tay lấy bình nước đặt trong cái rổ trên cao, còn Brant bước dang ra một chút hút thuốc. Tất cả tôi còn nhớ được là thình lình nghe một tiếng (đất) vỡ nứt thật mãnh liệt, tiếp theo là một cơn “bão đá đổ” dữ dội đến nỗi nó đẩy tôi lăn sâu hơn vào trong lồng như một trái banh .Sau đó là đất đá đổ đầy lên người tôi. Áng chừng đến khoảng ¾ tấn đá đất đã ập vào người tôi.

Todd bị đất đá đè lên người, không cử động được, nhưng đầu óc anh vẫn tỉnh táo. Hầm tối đen như mực. Anh lên tiếng gọi Larry nhiều lần, nhưng không nghe thấy tiếng trả lời. Anh nhớ lại là Brant đang làm việc cạnh mình, anh vội la lớn: “Brant, an toàn chứ?Có sao không?" Cũng không nghe gì hết, Todd độ chừng Brant đã bất tỉnh ở đâu đó. Anh gọi thêm 2,3 lần nữa thì nghe tiếng Brant: “ Yes, Brant đây! Bạn làm sao? Chân tôi không di chuyển được, lại tê đi như bị kim châm ấy”. Todd cũng cho Brant biết cả 2 chân cũng bị y hệt, còn bị đá đè lên nữa, anh liên tục bảo Brant tìm cách lôi anh ra khỏi đống đá.

Có lẽ lúc đầu vì sợ điếng người, Brant không nghe thấy tiếng bạn gọi. Bây giờ đã hoàn hồn một chút, anh tìm được cây đèn pin, bật lên rọi về phía Todd. Một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mắt: Todd , chỉ cách anh chưa tới nửa thước, bị chôn sống gần như hoàn toàn trong một đống đât đá, chỉ có đầu và vai là còn ở ngoài, 2 bàn tay nhờ vói lên cao nên không bị chôn cùng với thân mình,nhưng cũng chỉ di động được một khoảng trống rất nhỏ, từ vai này qua vai kia mà thôi. Có lẽ đất đá đổ ngay trên đầu của Todd. Riêng Brant, anh đã rời xa hơn một tí, vì thế, đất đá chỉ đổ xuống che lấp nửa thân hình phía dưới, nửa người trên của anh còn xoay trở tự do.

Todd biết rằng anh đang chịu sức đá đè rất nặng. Anh cảm thấy khó thở.. Anh tìm cách di chuyển một số đá gần nhất quanh mình để có chỗ trống rướn người lên từ từ.Rất tiếc, càng cố gắng, anh càng thấy cử động trở nên khó khăn hơn, vì càng lay động thân mình, đất đá càng nén chặt hơn. Lúc đó, chân trái của anh đã tê dại đi không còn cảm giác, càng cựa quậy, anh càng thấy khó thở hơn trước. Có lúc anh đã đi đến tình trạng thở hắt ra như sắp thở làn hơi cuối. Anh gịuc Brant tìm cách nào giúp anh.

Tracey: Thực sự lúc đó anh nghĩ là mình thở hơi cuối cùng?

Todd: Vâng, Sức đè lên ngực tôi cứ mỗi lúc mỗi thêm nặng đến mức nó đẩy chất lỏng trong người tôi lên làm tôi muốn ói. Tôi bảo Brant tìm cách nào lôi tôi ra khỏi đống đá mau, không thì tính mạng tôi sẽ bị nguy. Vào đúng lúc này, tôi nhớ lại tôi đã từng được huấn luyện mấy khoá về câp cứu. Trong các trường hợp tai nạn như vầy,nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời trong thời hạn khoảng 4 tiếng đồng hồ, nếu không, một số hoá chất trong người sẽ bị biến đổi thành chất độc giết chết nạn nhân. Bình tĩnh lại, tôi may mắn nhìn thấy cái rổ đựng đồ dùng ngay bên cạnh, tuy đã rách vẫn còn dùng được.Tôi dùng tay lượm từng cục đá, chuyền qua bàn tay kia bỏ vào rổ để giảm bớt sức đè trên ngực.

Brant: Todd đang bị nguy, tôi biết. Tôi nói với anh là tôi cũng đang bị chôn vùi, chỉ từ hông trở lên là không bị đè, tôi phải tự giải thoát trước, rồi mới cứu được anh. Tôi bắt đầu moi đất đá quanh người ra. Tôi moi trong túi áo ra được một con dao bấm nhỏ, nhờ nó tôi có thể cắt được những dây đai an toàn đeo quanh ngươi (theo đúng luật an toàn lao động Úc), lúc này đang bị vướng vào đống đá. Không có con dao. chắc chúng tôi không thoát được. Khi lần xuống tới đôi giầy, tôi không dám rút ra khỏi đống đá, vì sợ nó sẽ tạo một lỗ hổng, từ đó đất đá lại tuôn xuống, chúng tôi sẽ bị chôn vùi. Tôi đưa lưỡi dao vào bên trong giầy, từ từ cắt ra cho nó rộng để rút chân ra.

Cùng lúc, Todd ở bên cạnh càng thở dốc và liên tục ói mửa. Trong trí óc anh hiện lên hình ảnh vợ con thân thương, nhờ đó giúp anh thêm sức phấn đấu. Anh tự nhủ trong đầu: “Mình sẽ không chết ở đây. Trong đời, mình đã trải qua bao nhiêu khó khăn, nhưng chưa lần nào cuộc chiến đấu sinh tử như lần này"

Tracey: Các anh có lên tiếng cầu cứu gì không?

Todd và Brant: Có chứ, chúng tôi la lớn nhiều lần: “Cứu chúng tôi, cứu chúng tôi, chúng tôi vẫn còn sống, có ai nghe thấy chúng tôi không…?

Cái lồng sắt cứu mạng.

Todd và Brant ở trong một tình huống không thể nào tệ hơn. Nhờ chiếc lồng sắt đã che chở và là chỗ trú ẩn cực kỳ chật hẹp cho 2 người trong suốt thời gian lâm nạn. Cái lồng có chiều dài khoảng 2 mét, bề rộng 1,2 mét, chiều cao vừa đủ người ngồi đưa 2 tay quá khỏi đầu 2 hay 30 cm, trên nóc và 3 phía xung quanh được che bằng một tấm lưới sắt. Nhờ tấm lưới sắt này, hàng ngàn tấn đất đá đã không chôn vùi họ. Nhiều người cứ tưởng, với kích thước như thế, họ có thể nằm duỗi ra, và cái lồng bị một tảng đá lớn đè . Sự thực , khoãng trống cho họ chật hẹp hơn nhiều, vì đất đá đổ xuống là những viên đá to nhỏ, một số đã đổ vào trong lồng như lời họ diễn tả.

Tracey: Các anh muốn nói là tấm lưới sắt đã cứu mạng các anh?

Brant: Không, đúng ra là cứu Todd. Đất đá lúc đó đổ thẳng vể phía anh ấy. Tôi chỉ bị đá đè sơ sài thôi. Vấn đề đặt ra cho chúng tôi bây giờ là khi moi đất đá trên mình rồi bỏ chúng đi đâu?

Tracey: Anh bỏ ở đâu?

Brant: Xếp chúng vào một góc trong lồng, đâu còn chỗ nào khác. Sau khi tự giải thoát tôi quay sang Todd giúp anh di chuyển đống đá trện người anh…

Todd:-Brant giúp tôi thoát khỏi đống đá. Tôi nhận thấy chân trái tôi lúc này hoàn toàn mất cảm giác. Như tôi nói lúc nãy, công việc giải cứu khỏi đá đè cần làm trong phạm vi 4 tiếng đồng hồ. Chúng tôi đã làm mất khoảng 4 giờ 15 phút…

Tracey: Anh ra khỏi đống đá, và chân trái anh bị tê liệt?

Todd: Vâng, để di chuyển, tôi dùng 2 tay kéo nó đặt lên chân kia. rồi chống tay mà lết. Phải một thời gian lâu mới có thể cử động dễ dàng hơn.

Brant ngồi nhìn lên trên mái lồng, tấm lưới sắt che chở chĩu xuống. Một số đất đá như sẵn sàng đổ xuống bất cứ lúc nào. Rất nguy. Todd thì đang “bất khiển dụng” . Brant nói với Todd để anh chui ra những kẽ đá tìm đường thoát thân. . Hầm mỏ có rất nhiều tầng. Nếu họ có thể tìm ra đuợc một khe hở nào dù nhỏ, ăn thông với tầng trên để liên lạc thì 2 người có hy vong được cứu thoát Trong ba ngày liên tiếp, Brant lách qua những khe hở của đống đá sụp, bò tới được hơn 5 mét trong hầm nhưng không tìm thấy lối ra. Lúc này, mình mẩy anh ướt nhẹp bùn đất. Anh run rẩy vì lạnh. Todd đã kêu anh tới gần, 2 người phải ôm nhau để truyền hơi ấm cho anh.

Dự tính cắt bỏ chân.

Cái lồng sắt cứu mạng 2 người thực tế tệ hại hơn nhiều so với cái chúng ta tưởng tượng. Trên các sơ đồ phác hoạ trên báo chí, truyền hình, người ta cho rằng, với kích thước đó, 2 anh có đủ chỗ trống bò tới bò lui.Sự thực khoảng không gian rất chật hẹp.2 người ngồi cách nhau khoảng nửa thước, đưa tay lên khỏi đầu, chưa duỗi thẳng đã đụng trần, xung quanh đất đá ngổn ngang. Họ phải cố xếp gọn để lấy thêm chỗ. Đáng lo hơn, sau cơn địa chấn đầu làm đất lở, những cơn chấn động khác nhỏ hơn vẫn tiếp tục làm đất đá đổ xuống thêm.. Với vị thế không thoải mái, cộng thêm bị đất đá đè lên trong một thòi gian khá lâu làm chân bị tê liệt. Todd đã nghĩ đến việc, nếu cần phải cắt bỏ chân để cứu mạng, anh vẫn vui vẻ sẵn sàng. May mắn , với những cố gắng thoa bóp và liên tục tập cử động, máu huyết lưu thông bình thường, chân anh co giãn khá hơn. Có một kẽ nứt trong lòng đất rỉ ra từng giọt nước , tuy không sạch sẽ lắm, cũng tạm đủ cho cả 2. Họ dùng 2 cái nón an toàn thay nhau hứng nước. Để giữ tinh thần, họ luôn phải động viên nhau. Brant di chuyển dễ dàng hơn Todd, nhưng dễ xúc động hơn. Vì thế, Todd cứ phải động viên.

Anh bảo Brant phải cố thật bình tĩnh để giải quyết mọi vấn đề trong tình huống cực kỳ khó khăn hiện tại, nếu không thì chỉ đáng là 2 đứa con nít. Brant tìm được trong túi một thanh muesi bar,một loại kẹo làm bằng trái cây và các loại hạt, khoảng 80 – 100 gram công nhân thường ăn trong giờ nghỉ giải lao(theo luật lao động Australia, sau mỗi 2 giờ lao động, công nhân mọi ngành nghề phải có 10 phút nghỉ giải lao). Todd bảo anh cứ để dành đó cho ngày kế. Sau 24 tiếng, anh lại nói: “thôi, tớ chưa đói, ráng thêm 24 giờ nữa đi”. Cuối cùng, Brant cũng bẻ đôi, chia cho Todd một nửa. Anh e rằng, có lúc không kìm nổi cơn đói , ăn hết cả phần của bạn chăng? Todd cầm lấy nhưng chỉ cắn lấy một chút nhỏ như hạt đậu, đoạn cất bỏ vào túi, không thể biết mình sẽ ở trong cái “nhà mồ sống” này bao lâu.

Tracey: Các anh có tự hỏi về số phận của Larry ra sao không?

Todd: Chúng tôi cho rằng Larry đã thoát nạn. Hai chúng tôi tự an ủi nhau, chúng ta đang ở trong cơn thử thách lớn. Điều quan trọng hơn hết là lúc này, chúng ta vẫn đang còn sống.

Đếm từng giây đến với tử thần.

Tin rằng người bạn đồng sự Larry đã thoát nạn và có lẽ đã cấp báo cho việc tiếp cứu, tinh thần 2 người còn phấn khởi thêm khi họ cho rằng chính tai mình đã nghe được những tiếng động dường như là hành động tiếp cứu ấy.

Todd: Chúng tôi nghe như văng vẳng có tiếng máy móc đang được khiển động từ đâu đó. Chúng tôi cố la thật lớn, ngay cả dùng các vật dụng có được gõ vào đá để tạo âm thanh, cầu mong người ta nghe được tiếng động và biết chúng tôi còn sống. Nhưng có lẽ không ai nghe thấy, sau một thời gian thì tiếng máy ngưng, chúng tôi không nghe gì nữa.

Tracey: Các anh có hiểu tại sao, trong một khu vực tương đối nhỏ bé như vậy, người ta lại phải mất nhiều ngày mới tìm ra các anh vẫn còn sống?

Todd: Không, thành thực mà nói, chúng tôi hoàn toàn không biết gì về những biến cố ở trên mặt đất.

Sau khi tìm được xác của Larry, đã qua ngày thứ tư kể từ khi biến cố xảy ra, toán tiếp cứu bắt đầu dùng chất nổ để phá đá. Ba ngày kế tiếp là những giờ phút căng thẳng kinh hoàng cho 2 nạn nhân. Họ có thể bị tan xác bất cứ lúc nào cùng với những tiếng nổ đó. Theo Todd, người ta đang cố khám phá những gì xảy ra cho 2 anh trong tình huống sau tai nạn. Brant thì cho rằng, có lẽ sau khi tìm thấy xác của Larry, người ta đã đầu hàng và tin rằng không ai có thể sống sót qua cái biến cố kinh hoàng ấy. Nhưng Todd lại có ý khác. Anh không đồng ý với Brant ở điểm này. Theo anh, họ phải dùng chất nổ chẳng qua không có cách nào khác khả dĩ nhanh chóng dễ dàng hơn. Sồng hay chết, họ vẫn phải tìm kiếm 2 anh vì đó là trách nhiệm. Brant bảo rằng 2 anh không thể đọc được ý nghĩ của họ. Tuy nhiên, quả thực là kinh hoàng khi nghe thấy tiếng nổ đầu tiên nghe rất gần. Tiếng nổ cư liên tục đều đặn. Mỗi lần sau tiếng nổ, đất đá bên ngoài lồng lại đổ xuống nhiều hơn.Nhiều đến mức 2 người không còn hy vọng có thể bươi ra tìm lối thoát. Trong những ngày 4,5,6 ấy, hai người chỉ còn nhắm mắt đợi chờ chuyện tệ hại nhất xảy đến. Họ người ngồi thu mình vào trong một góc, mỗi tiếng nổ lại làm cái lồng sắt rung chuyển . Đất đá lại rơi xuống Họ ngồi đếm từng giây phút cận kề hơn với cái chết. Cứ sau mỗi tiếng nổ, họ lại đưa tay ra xiết chặt, chúc mừng nhau vừa vượt qua được thử thách, chưa nộp mạng cho thần chết. Họ đã cho nổ cả thảy 8 lần, mỗi lúc nghe gần hơn, họ đếm từng giây phút khoảng cách giữa 2 lần nổ. Hai người cho rằng họ đang đếm những giây phút cuối đời. Todd tìm thấy trong người còn một cây bút. Sau mỗi lần tiếng nổ vừa tan, anh lại viết lên người chính xác ngày giờ ở ngay lúc đó. Nếu chẳng may 2 người đều thiệt mạng, anh muốn cho mọi người khi tìm thấy thân thể anh, họ sẽ biết rõ cho đến thời điểm nào 2 người vẫn còn sống.

Todd: Thật khó cho tôi khi kể lại chuyện này. Hai ngày đầu tiên, niềm hy vọng sống sót hết sức mong manh. Tưởng nhớ đến vợ và ba đứa con, cha mẹ và thân thuộc, tôi đã viết những lời trăn trối cho họ trên cánh tay của tôi. Sau đó, mồ hôi và bùn đất làm nhoà đi hết. Sau này, tôi viết lên bộ đồ overall (bộ quần áo bảo hộ lao động)

Tracey: Các anh nghĩ là họ có thể vô tình sát hại các anh trong lúc tìm kiếm các anh chăng?

Brant: Không, tôi nghĩ họ rất thận trọng trong việc tìm kiếm, nhưng không dám chắc mình còn sống được khi họ tìm ra không?

Tracey: Anh có thể cho biết anh đã viết gì cho gia đình?

Todd :Tôi viết cho vợ tôi về những gì đã và đang xảy ra, về nỗi khó khăn của sự chống chỏi với cơn thử thách quá cam go, về tình yêu của tôi cho cô ấy và các con tôi. Tôi viết cho con trai tôi, hy vọng nó đạt được ước mơ trở thành cầu thủ football xuất xắc, thằng bé mê football (môn đá bóng bầu dục Úc) lắm…Nói đến đây, anh sụt sùi vì cảm động.

Họ an ủi hỗ trợ nhau để giết thì giờ bằng cách kể cho nhau nghe đủ mọi thứ trên đời, chẳng hạn như thường làm gì vào cuối tuần và những ngày nghỉ. Todd thường có thú đi săn, Brant lại thích đi câu. Món ăn nào mỗi người ưa thích . Loại âm nhạc nào họ hay nghe, chuyện gia đình con cái tính nết ra sao, kể cả chuyện bông đùa giỡn cợt. Brant hút thuốc lá, vì thế , anh đã dùng cái vỏ không làm giấy viết nhửng tâm tình của anh cho gia đình. Anh đã mang theo được khi lên trên mặt đất. Bây giờ, đối với Rachel vợ anh, nó là món kỷ niệm vô giá nhất. Todd nhắn gửi cho con trai rằng anh chúc con thăng tiến trong ước vọng đá banh. Dù không còn có mặt trên đời, anh từ trên cao vẫn luôn ngó xuống chăm sóc cho nó. Anh cầu chúc Carolyn, vợ anh và gia đình thật an lành, chấp nhận định mệnh phũ phàng của anh, mong mỏi họ được nhiều điều tốt đẹp.. Carolyn còn trẻ, nàng sẽ bước đi bước nữa . Anh chúc nàng nhiều hạnh phúc. Chúc cho người đến sau anh may mắn hơn. Anh cũng mong anh ta sẽ chăm sóc các con của anh thật chu đáo.

Theo 2 người, viết những mảng chữ nhắn gửi lại cho gia đình, người thân yêu là phần gay go nhất của cơn thử thách. Nhắc tới gia đình, nước mắt cả 2 lúc nào cũng muốn trào ra. Thế rồi, cũng chính họ lại phải tự an ủi nhau. Không thể biết ai là người sẽ còn sống sót , vì thế, họ cũng dặn dò nhau những chuyện không thể viết ra hết.

Còn gia đình của họ trên mặt đất có cảm giác ra sao? Rachel Webb lo lắng đến không thể làm được việc gì. Khu vực hầm mỏ, ngoại trừ nhân viên và các toán tiếp cứu, không ai được phép vào . Rachel chỉ còn cách thẫn thờ chờ đợi tin tức cập nhật trên TV . Carolyn Russell có vẻ bình tĩnh hơn. Cô không nhớ cảm tưởng những ngày đầu vô vọng ra sao. Tuy nhiên, cô luôn luôn tin tưởng Todd vẫn an toàn đâu đó. Cô luôn luôn tự trấn an: “Todd ơi! cố lên. Đừng bao giờ đầu hàng số phận”.

Todd: Nhớ dến gia đình, hàng trăm ngàn ý tưởng lướt qua trong trí. Chẳng hạn như, tôi yêu Carolyn lắm. Nhưng rồi cô ấy cũng phải đi lấy chồng khác, các con tôi sẽ sống với họ. Không biết rồi họ nuôi dạy các con tôi có tận tâm đầy đủ không? Còn ba mẹ tôi nữa. Ông bà sẽ xoay xở ra sao khi không có tôi? Họ đã quen có tôi đỡ đần một tay những công việc nặng nhọc, hay sửa chữa món đồ này vật dụng kia. Chú chó săn của tôi nữa! Chắc nó nhớ tôi lắm. Điều tệ hại nhất là tôi đã chết đâu? Chỉ đang bị kẹt dưới lòng đất này thôi.

Brant:Tôi là người lạc quan. Ít khi nào tôi hối tiếc những việc đã đi qua trong đời .Thường tôi chỉ nhìn về phía trước, hiếm khi quay mặt lại. Thế mà, trong cơn hoạn nạn này, tôi đã nghĩ ngơi nhiều về dĩ vãng . Cô ấy ở nhà, có thể đang nghĩ dến món tiền bảo hiểm nhân mạng, nghĩ dến trò chơi trượt nước và đi câu cá. Chúng tôi vẫn mê thích những trò tiêu khiển này. Cơn hoạn nạn làm tôi thấy mình quá xui xẻo, thua thiệt.

Mười bốn ngày ngồi bó mình trong cái lồng chật hẹp cũng làm Todd suy tưởng nhiều về quá khứ. Nếu sống sót trở về, có nhiều thứ cần thay đổi lại trong cuộc sống. Trước đây anh thiên về lối sống cá nhân vị kỷ, làm theo ý mình, sống cho mình trước, gia đình đến sau. Nay phải nghĩ lại. Gia đình phải là ưu tiên một. Đừng cho đó là tầm thường, mất đi mới thấy thấm thía..

Chúa ơi! Họ vẫn còn sống. Đúng là phép lạ!


Đã 6 ngày trôi qua. 2 người nghĩ cái chết chắc cũng không còn lâu nữa. Để quên đi thời gian và gia đình, họ bảo nhau nên làm một điều gì đó. 2 người đồng ý chọn một ca khúc của Kenny Rogers và họ đồng thanh hát lớn. Bất ngờ, Todd ngưng hát, anh đặt ngón tay trỏ lên môi: “Im lặng,! im lặng!Hãy lắng nghe coi!” Lần đầu tiên trong 6 ngày, có tiếng ngưỜi nói , không phải giọng nói của họ. Đó là một tiếng la khá rõ: “Im đi! mấy cha nội nào trong đó vậy. Im đi chứ!”. Có lẽ họ tưởng những người cùng trong toán đi tìm người. Hai người mừng rỡ vô cùng. Như vậy là người ta đã tỉm ra họ. Bước đầu tiên của sự sống lại cho họ, cũng là bước thành công thứ nhất của toán giải cứu. Không còn lo lắng sinh mạng tan theo tiếng nổ.

Tin nóng đưa lên mặt đất lan đi thật nhanh. Tất cả mọi người trong thị trấn túa ra đường hân hoan. Họ ôm nhau mừng rỡ, la lớn cho nhau nghe: “ Họ còn sống! Họ còn sống. Ôi! đúng là một phép lạ!” Khắp nước Úc, tin tức được báo chí đưa lên trang nhất. Chương trình TV cập nhật diễn biến từng giờ và trở thành tin quan trọng nhất vào giờ tin buổi tối trong nhiều ngày. Không cần phải nói, niềm vui lớn nhất thuộc về Carolyn, Rachel cùng gia đình.

Kế hoạch nào cho sự giải cứu?

Cho tới lúc này, không ai biết rằng, để cứu 2 nạn nhân, người ta còn rất nhiều gian truân, còn phải mất nhiều thời gian. Hơn thế, có những quyết định thập phần khó khăn, chỉ cần một sai lầm cực nhỏ là công việc tiếp cứu, vừa đi được nửa đường khá ngoạn mục, trở thành công dã tràng, nếu chẳng may có gì sơ xẩy. Todd cho hay: ngay trong ngày hôm đó, khi đã có sự liên lạc giữa 2 bên, anh yêu cầu họ tắt đèn . Còn anh sẽ bật đèn của mình lên, nhờ đó họ nhận diện được chỗ của 2 người qua một ánh sáng rất nhỏ xuyên qua kẽ đá. Một trong những người tiếp cứu đặt ngón tay lên cái lỗ sáng, Todd vươn tay lên. Anh nghĩ mình đã chạm vào một vật mềm mà anh quả quyết là đã chạm vào cái bao tay của người bên kia. Như vậy. họ dù không thấy nhau, cũng chỉ cách nhau một khoảng bằng chiều dài của cánh tay.Thế nhưng làm cách nào đưa 2 người ra khỏi căn nhà tù ấy không đơn giản chút nào.

Tracey: Gần như vậy mà họ không đào thẳng xuống để cứu các anh ra ngay, có biết tại sao không?

Todd:-Như chị thấy, trên đầu chúng tôi chỉ có một tấm lưới sắt mỏng manh bảo vệ. Nó lại đang chịu hàng trăm ngàn tấn đất đá đè lên. Muốn đào lôi chúng tôi lên thì phải cắt tấm lưới. Nhưng nếu cắt tấm lưới đó ra thì hàng ngàn tấn đất đá đa phần sẽ đè 2 người chúng tôi bẹp dí. Như thế sự phó mặc cho may rủi quá lớn.Vì vậy, phải tìm phương pháp an toàn hơn.

Tracey: Người ta có cho các anh biết kế hoạch như thế nào không?

Brant: Có, họ có 2 kế hoạch gọi là A và B. Kế hoạch B, như Todd đã nói, nhanh chóng nhưng quá nguy hiểm, không thể bảo đảm tính mạng của chúng tôi. Có thể họ thành công, có thể thất bại. Khi lôi được chúng tôi ra, có khi chỉ còn là 2 xác chết. Kế hoạch A là đào một đường hầm từ xa ở duới chân của chúng tôi. Nó bảo đảm an toàn hơn, nhưng sẽ mất rất nhiều thời gian. Họ có hội ý chúng tôi về chuyện đó. Todd có bảo với họ rằng: "haỹ làm điều gì các bạn thấy an toàn nhất. Chúng tô icó thể chịu đựng nổi. Chúng tôi đã nhịn đói được 6 ngày rồi;chúng tôi còn có thể nhịn thêm 6 ngày nữa”.

Những ưu tư của ban quản trị.

Giới chủ nhân tư bản, không phải chỉ biết kiếm lợi nhuận như nhiều người lầm tưởng. Họ giao trọng trách cho ban quản trị điều hành công ty, những người có trách nhiệm rất lớn không chỉ với công việc và tài sản của công ty, mà vấn đề an toàn cho công nhân viên trong lao động là ưu tiên hàng đầu. Gặp một tình huống nguy hiểm đến sinh mạng công nhân, mọi công việc ngưng lại để tập trung giải quyết vấn đề.. Khi được hỏi tại sao công cuộc giải cứu 2 công nhân bị kẹt dưới lòng đất quá chậm chạp và khó khăn như vậy, Ông giám đốc quản trị hầm mỏ Matthew Gill cho biết:

“Trong môi trường làm việc tương đối chất hẹp của một hầm mỏ, ở một độ sâu 925 mét dưới lòng đất, khả năng sử dụng nhân lực và máy mòc thiết bị cũng bị hạn chế, cộng với điều kiện phải thi hành nghiêm chỉnh mật độ an toàn tuyệt đối cho cả nạn nhân và nhân viên giải cứu, dẫn đến sự việc quá trình giải cứu mất nhiều thời gian..Sau khi tìm thấy họ còn sống và sức khoẻ tương đối tốt, có nghĩa là sinh mạng chưa nguy hiểm đến độ phải chạy đua với thời gian, bất kể may rủi thì quyết định về phương án giải cứu an toàn cũng trở nên dễ hơn.Tất cả các bộ phận trong hầm mỏ đều đóng cửa để hoàn toàn tập trung vào kế hoạch giải cứu 24/24 . Đội giải cứu trong lúc này đang khoan một lỗ có chiều dài 14,5 mét, đường kính 90 mm để tiếp tế thực phẩm và những thứ cần thiết cho nạn nhân.. Họ dã được tiếp tế nước, sustagen (một loại bột dinh dưỡng như sữa bột pha vào nước để sử dụng), mền điện. Tất cả mọi thứ được chuyển lần lượt qua cái lỗ thông đó. Chúng tôi có chuyển cả máy hình vào bên trong để chúng ta ở trên thấy được một ít thật chính xác bên trong. Một Ipod cũng được gửi vào cho các nạn nhân có thể tiếp xúc với gia đình và thế giới ở trên qua các điện văn.”

Tracey: Vai trò của các nạn nhân trong công việc giải cứu ra sao, thưa ông?

M. Gill:-Vâng, phải nói là rất quan yếu.Chúng tôi biết được phạm vi họ đang ở, tình huống nào họ đang gặp, trạng thái nào về thể chất và tinh thần họ đang có để có thể quyết định cách tiếp cứu hoàn hảo nhất, phản ứng kịp thời khi cần thiết và giảm độ rủi ro đến mức tối thiểu.Chúng tôi biết họ còn sức lực và tinh thần phấn đấu cao. Chính tôi có nói chuyện trực tiếp với họ, Cũng chính họ yêu cầu tìm phương án an toàn nhất. Thời gian là điểm họ có thể chịu đựng. Đồng thời, sự kết luận về tình trạng thể chất và tâm thần của nạn nhân về mặt y học của ban cứu thương xác nhận là tốt. Vì vậy, đã có sự dễ dàng cho chúng tôi đi đến quyết định chọn phương án an toàn tối đa, chấp nhận việc thời gian phải kéo dài.

Chính ông thật sự kinh ngạc trước sức chịu đựng và tinh thần vững mạnh cảa 2 người. Cận kề với cái chết từng giây từng phút, họ vẫn có đưọc sự thản nhiên, vẫn có thể kể chuyện bông đùa.Phân tích nét mặt và dáng điệu của họ trên màn hình,rõ ràng đó là bản chất trung thực của họ chứ không phải giả vờ hay đóng kịch. 2 nạn nhân cũng nói rằng, nhờ có camera được gửi xuống, nó gíup đỡ toán giải cứu khá đắc lực. Chẳng hạn, nhờ đó họ có thể định rõ đúng vị trí 2 người đang ngồi, và để điều chỉnh đường hầm đúng hướng. Thế còn Ipod, họ đã gửi được thư nhắn với gia đình.

Todd viết: “Carolyn yêu! Đây không phải là cách tốt nhất khi anh viết thư này cho em: phải chiến đấu thật cam go trong một tình huống hết sức khó khăn cho sự sống còn của anh và để giữ vững tinh thần. Tin anh đi. Không lâu nữa đâu, anh sẽ về với em mãi mãi. Anh không mong đợi lâu hơn để thấy lại em. Dưới này không có nhiều chỗ để viết . Anh nóng lòng trở về căn phòng của chúng ta. Yêu em nhiều và cố vững tinh thần. Hôn em.”

Với hy vọng là nguồn sinh lực, 2 người đã chia sẻ với nhau tất cả mọi vật nhận được từ bên trên, kể cả những riêng tư nhất về thư từ của vợ con, gia đình.

Người bạn xấu số và truyền thông.

Họ biết được tin về sự bất hạnh của người bạn đồng sự Larry Knights khá nuộn màng. Ngay khi liên lạc được với bên ngoài, 2 người đã hỏi thăm tin tức về Larry ngay. Nhưng để tránh những xúc động quá đáng, có hại cho họ về cả thể chất và tâm thần, các toán giải cứu được lệnh không loan tin, chờ công cuộc giải cứu xong sẽ rõ. Cuối cùng, 2 nguời nói thẳng với ban giám đốc của công ty rằng họ đã là những người trưởng thành, họ đủ sức để chịu đưng mọi thứ dù phũ phàng đến đâu cũng vậy, yêu cầu của họ là biết được sự thật. Đó là vào ngày thứ tám ở dưới lòng đất. Khi được thông báo Larry đã ra đi, họ thương cảm cho số phận của Larry,còn xót xa hơn nữa cho gia đình người quả phụ. Tinh thần của họ cũng chùng xuống với chính thân phận mình. Không biết có qua khỏi cơn ngặt nghèo này?


Tracey: 2 anh nghĩ có thể vượt qua nhựng thử thách y hệt như vậy, trong trường hợp phải trải qua biến cố này một mình, không có bạn bên cạnh?

Todd: Cũng rất có thể, nhưng chắc chắn tình thế sẽ khó khăn gấp bội. Vì thế, ngay từ ngày đầu xảy ra biến cố, chúng tôi đã tin rằng: số mệnh của 2 chúng tôi như đã gắn chặt với nhau từ nay đến cuối đời.

Tracey: Có rất nhiều người thắc mắc muốn nhờ tôi hỏi 2 anh, 14 ngày ở dưới đó, 2 anh có đi cầu không?

Todd và Brant (cười): Không , chật chội quá, chỗ đâu mà làm chuyện đó! Vả lại, trong suốt thời gian, chúng tôi không ăn thực phẩm cứng nên trong bụng cũng chả có gì. Có lúc Todd nói đùa: “nếu tớ mắc quá thì cậu nắm giùm cái bao nhé?”. Tôi lắc đầu: ”no way, man, thôi ráng nhịn đi!"

Tracey: 2 anh có được thông tin về truyền thông, báo chí nói về sự cố này không?

Todd: Không, chúng tôi không được cho biết gì. Có lúc, tôi vỗ vai Brant và bảo: “Này, cậu có nghĩ là mình đang là chủ đề trên trang nhất của tờ báo The Examiner(báo địa phương) không?” Chúng tôi tin là có. Ban giám đốc có yêu cầu toán giải cứu không chuyển báo chí vào cho chúng tôi. Chính tôi đã hỏi thẳng ông giám đốc, xin gưỉ vào một hai tờ báo. Ông ấy hỏi lại tôi muốn tìm gì trong báo, tôi có đùa rằng để tìm việc làm. Ông bảo tôi đã có việc rồi còn tìm chi nữa?

Thực tế, hầu như trong suốt thời gian đó, các nhật báo lớn và các đài truyền thanh, truyền hình, dù của tư nhân hay nhà nước trên toàn quốc, tin về biến cố luôn luôn ở hàng đầu, tít lớn. Một đề tài sôi nổi ở tất cả các văn phòng, công xưởng, bệnh viện, trường học. Mọi người đều chú tâm mong đến chung cuộc dể coi kết quả việc giải cứu ra sao. Các ký giả, phóng viên đều túc trực bên ngoài thang máy của trụ sở hầm mỏ. Có một chuyện đáng tiếc: trong khi các nạn nhân của bi kịch dưới lòng đất sâu còn sống, khoảng ngày thứ 12, ông J. Carleton, môt ký giả lão thành nổi tiếng của đài truyền hình số 9 Úc châu lại đột quỵ khi đang làm công việc phỏng vấn công nhân ở bên trong trụ sở hầm mỏ. Ông đã qua đời trên đường đi đến bệnh viện. Người bị nạn sống sót, người an toàn ở trên lại qua đời. Đúng là một bi hài.

Đến đích rồi vẫn gặp trở ngại.

Vào ngày thứ 12, công cuộc giải cứu đã dến giai đoạn cuối. Họ đã đào một đường hầm cách dưới cái lồng nạn nhân ngồi chừng 1 mét. Đường hầm dài 16 mét, rộng 1 mét, cao cùng khoảng. Đến đoạn cuối cùng là đoạn phải đào thẳng ngược lên thì gặp trở ngại. Để giữ tuyệt đối an toàn cho người ngồi ở trên, họ phải đục bằng tay, nhưng đá lại quá cứng. Người ta đào mất nửa ngày mà không kết quả. Trong khi đó, theo kế hoạch, việc giải cứu sẽ hoàn thành trong ngày. Mọi người ở trên nóng lòng chờ đợi. Báo cáo trở ngại được chuyển lên trên. Người ta yêu cầu mang một mẫu nhỏ đá lên phân chất. Đây là một loại đá (người viết quên tên) cứng hơn bê tông đến cả chục lần. Darren Flanagan, một trong số người thợ mỏ của toán giải cứu đào những thước đá cuối cùng cho biết: “Tảng đá cứng đến mức độ không thể nào dùng búa và đục, chúng tôi thử khoan điện cũng không xong, Mất rất nhiều thì giờ mà công việc không tiến triển. Vì thế, sau khi bàn luận, chúng tôi phải xử dụng những gói thuốc nổ cực nhỏ để phá đá.”


Họ có chuyển một điện thoại di động vào cho Todd liên lạc thẳng với người ở dưới đường hầm đề điều chỉnh đúng thời điểm cho nổ. Họ muốn công việc thật chắc chăn, Khi nào đã gần tiến tới chỗ của 2 người thì ngưng ngay lại. May mắn, lớp đá cứng chỉ dày khoảng 30 cm, phần còn lại đá đã mềm hơn. Cuối cùng, họ đào được bằng tay. Cái lỗ đầu tiên soi thủng lớp đá chỉ bằng cỡ nút chai, ngay phiá ngoài lồng cách chừng nửa thước, một vị trí lý tưởng đúng với ý muốn của toán giải cứu. Todd và Brant reo lên mừng rỡ. Ôi đời sao quá đẹp. Cái lỗ cứ từ từ rộng ra, họ có thể thò tay xuống bắt tay người bạn đang đào phía dưới. Đó là ngày thứ 14.

Họ lên tới rồi!

Chậm mất gần 2 ngày so với dự tính,họ được lôi ra khỏi đường hầm khoảng 5 giờ sáng. Trong 1 phòng làm việc dưới hầm, toán cứu thương chuẩn bị các dụng cụ cần thiết và khám sức khoẻ sơ khởi. Mỗi người mất khoảng 10 ký lô nhưng tương đối mạnh khoẻ, không kể các vết cắt vết bầm. Họ mang xe lăn đến cho 2 anh. Ai cũng nghĩ, sau một thời gian ngồi bó gối quá lâu, không ai có thể đi đứng được. Nhưng moị người đã lầm. những nạn nhân kể rằng, gần 2 tuần lễ ở trong chốn rất chật ấy, họ vẫn xoa bóp tay chân và thực hàng các động tác co duỗi. Vì vậy, vừa ra khỏi đường hầm cứu cấp, họ vẫn bước đi được, tuy có hơi khó khăn. Todd nói với viên bác sĩ: " Lên tới mặt đất, tôi sẽ tự đi bộ ra ,bằng cách này hay cách khác.” Bác sĩ bảo:”Tôi mới là người cho anh biết anh sẽ đi ra như thế nào. Tôi nghĩ anh nên ngồi vào xe lăn.” Todd đáp ngay: “Này bác sĩ,tôi đã nói là tôi bước ra bằng đôi chân của tôi, dù ông đồng ý hay không. Chúng tôi cũng phải có ý kiến riêng chứ! Chúng tôi đã bước đi được ở đây. vậy chúng tôi có thể tự bước ra khỏi thang máy được”

Chung quanh cửa thang máy, đám đông người và 2 xe cứu thương đang chờ đợi những người dũng cảm. Họ đã chờ đợi gần 2 ngày nay. Lúc đó là 6 giờ sáng,có tiếng la lớn: “Họ đã lên tới kìa”. Tiếng reo hò vang dậy, cửa thang máy mở ra, 2 người trong đồng phục lao động, hệt như lúc họ đi vào 14 ngày trước, bước ra khỏi thang, tiến đến tháo bỏ tấm card làm việc (tấm card cá nhân cho biết ai còn đang làm việc dưới hầm mỏ tại thời điểm đó) lần cuối rồi bước ra ngoài,2 tay dang rộng trong tư thế chiến thắng (chữ V). Họ tiến thẳng vào vòng tay thân thiết, sung sướng của vợ con, gia đình trước ống kính cuả gìới truyền thông báo chí, niềm hoan lạc của bè bạn và của mọi người. 14 ngày dưới mộ đất đen. 14 ngày chỉ ngồi và bò. Cuối cùng họ đã chiến thắng. Họ đã ra khỏi ngôi nhà tù những tưởng đã chôn sống họ. Nỗi ám ảnh không dễ gì xóa trong tâm tưởng, nhưng nó sẽ phai nhạt. Điều quan trọng là được sống. Thật tuyệt vời khi gặp lại mọi thứ thân quen, nghe lại tiếng nói của những người thân yêu nhất trên đời, ôm xiết họ trong tay, tiếp nhận những bàn tay chúc mừng của bạn bè , lối xóm, trươc khi leo lên 2 chiếc xe cứu thương đưa 2 người vào bệnh viện khám nghiệm toàn bộ.

Gia đình Larry đã rời lại tang lễ, để 2 người bạn từ dưới lòng đất trở về có thể tham dự. Todd đã có thể rời bệnh viện 2 giờ sau đó để về nhà. chuẩn bị đi đám tang của Larry. Quần áo bây giờ quá rộng. Anh cần một bộ đồ mới cho tang lễ.Anh tiếp xúc, nói chuyện nhiều với Jackie (bà quả phụ) để an ủi bà và gia đình:” Bất cứ khi nào gia đình chị cần đến, cứ gọi đến ngay,tôi sẽ luôn có mặt.” Để cảm tạ và biết ơn tấm thịnh tình của người dân thị xã, nơi người ta gần như biết nhau, Todd và Brant đã đi nói chuyện trong các buổi sinh hoạt xã hội, đặc biệt với các em học sinh nhỏ, kể cho họ về những kinh nghiệm trong cuộc chiến gian lao với tử thần của mình, đồng thời quyết định lấy một phần những lợi tức có đuợc trong tương lai thành lập một quĩ tương trợ cho các việc xã hội trong thị xã.

Và…the happy ending.

Todd Russell (trước) and Brant Webb (sau) sau hai tuần cam go
Nguồn/Ảnh: smh.com.au/Ian Waldie/Getty Images
Hậu quả sau cơn thử thách không dễ gì tan biến. Thể chất của họ vẫn còn những cơn đau lưng, cột sống và chân tay. Những ngón chân của Todd lúc này vẫn còn tê dại. Tinh thần thì cơn thử thách vẫn còn ám ảnh, thường trở về trong giấc ngủ làm đôi lúc anh tự hỏi mình đang sống thực hay mơ. Dù sao , sống sót trở về cũng là một điều kỳ diệu, một happy ending, không những cho họ, gia đình họ, mà cho cả mọi người dân xứ Úc. Sự kỳ diệu không chỉ ở sự sống sót trở về của họ. Nó biểu hiện mạnh mẽ nhất trong sự dũng cảm đối diện với thử thách của 2 anh. Nó sáng chói thêm qua những nỗ lực vượt bực và không mệt mỏi trong sự tìm kiếm, giải cứu 2 anh của bạn đồng sự, nhân viên giới chức công ty cũng như sư quan tâm đặc biệt của tất cả mọi người trong thị trấn Baconfield, người dân xứ Úc. Nó nói lên được sự cao cả của tình nhân loại. Chẳng thế mà người ta đã trả hàng triệu đô la cho câu chuyện của họ. Và người ta sẽ còn tiếp tục trả nhiều triệu nữa. Chẳng thế mà 2 anh, những công nhân thật bình thường, được mời tới quôc hội liên bang Úc để tường thuật cho Thủ Tướng, Chính Phủ, dân biểu nghị sĩ Úc cả 2 phía cầm quyên và đối lập về sự vượt qua cơn thử thách đó. Bài học 2 người đã học được qua chuyện này, và họ muốn chia sẻ với mọi người là: Đời sống rất đẹp. Sinh mạng con người, dù sang hèn cũng rất quý giá. Xin đừng coi thường mạng sống con người. Đối với họ, kể từ sau cơn hoạn nạn, mỗi ngày sống thêm coi như một phần thưởng, một “bonus” Thượng Đế ban thêm.

Tracey: 2 anh có đổ lỗi cho công ty về tai nạn đó không? Và 2 anh nghĩ hầm mỏ có nên tiếp tục khai thác nữa không?

Todd: Không, thật sự, bất cứ chúng ta làm việc gì, ở đâu, tai nạn cũng có thể xảy đến cho tất cả mọi người, nói chi đến một cơn địa chấn, một thiên tai. Chúng ta chỉ cố gắng để sự thiệt hại giảm ở mức tối thiểu. Mọi thương tật về thể xác hay tâm lý vẫn có thể chữa lành chắc chắn là cần thời gian. Và sự kiên nhẫn.Về câu hỏi sau của chị, tôi nghĩ là nên tiếp tục khai thác nữa chứ. Còn nhiều vàng dưới ấy lắm mà! Vả lại, thị trấn này sống được là nhờ nó mà! Đóng cửa thì có thành thị trấn ma.

Tracey: 2 anh học được gì ở nhau?

Todd: Những điểm mạnh

Brant: Cả những điểm yếu.

Tracey: Có lời nhăn gửi nào cho mọi người?

Todd: Những gì bạn đang có trong tay: cuộc sống, tình yêu, gia đình, hạnh phúc quý giá lắm các bạn ơi! Đừng coi thường nó. Vì khi bạn mất, không bao giờ lấy lại.

(Phỏng theo The Great Escape, Tracey Grimshaw thực hiện)

Australia, 03/06/2006
Phương Duy

Australia: Đất nước của sự bao dung.

Tôi định cư tại Australia đã gần một phần tư thế kỷ. Cái hòn đảo cực lớn nằm ở tận cùng cực Nam thường được gọi là cái đáy của thế giới (the bottom of the world). Thật ra phải gọi nó là lục địa mới đúng cái tầm vóc to lớn ấy. Lãnh thổ thì mênh mông, nhưng dân số lại không đông (18 triệu theo thống kê 2004) đó là vùng đất khô hạn nhất trên địa cầu, đất đai đa số là sa mạc ngày nóng cháy, đêm buốt lạnh. Dù sao đây vẫn là một đất nước may mắn (a lucky country) như người dân xứ này thường tự hào khi nói đến xứ sở của họ:”Hỡi công dân Úc, hãy vui mừng vì chúng ta trẻ trung và tự do.”Câu mở đầu trong bài quốc ca Úc đủ nói lên niềm tự hào sung sướng. Sau sự sụp đổ của VNCH, những năm tháng tù tội, sau đó là thời gian dài lang thang vất vưởng, sống và làm việc bất hợp pháp ngay trên căn nhà của mình làm cho nỗi khao khát tự do của tôi mãnh lỉệt đến trở thành tối thiết. Bước chân lên con thuyền tỵ nạn mỏng manh, lênh đênh trôi dạt ít ngày rồi cũng đến bến bờ. Ước mơ thành hiện thực, nhưng niềm vui chất chứa thật nhiều cay đắng vì đã phải bỏ lại sau lưng tất cả người thân: cha mẹ, vợ con , anh chị em và bạn hữu. Không biết bao giờ mới gặp lại, không biết có còn dịp gặp lại nữa không.

Tuy nhiên, còn sống là còn hy vọng, dù sao cũng phải lăn xả vào đời sống. Khi những xúc cảm trong tâm hồn đã lắng đọng thì bắt đầu phải lo cho tương lai. Hòn đảo Bidong nơi con thuyền cập bến chỉ là mảnh đất tạm dung, quốc gia đệ tam nào sẽ là nơi cho mình ổn định những bước đi tới là 1 câu hỏi khó trả lời. Những người quen thân đến trại tỵ nạn trước thường cho lời khuyên là dù phải đợi lâu một chút, cũng ráng chờ để vào Mỹ, vì chỉ có đây là” đất nước của mọi cơ hội”. Thế nhưng sẵn trong lòng đang đầy ắp sự thương nhớ gia đình, thêm nỗi đau bị người bạn Đồng minh phản bội làm nước mất nhà tan, tôi đâm ra thất vọng và mất thiện cảm ngay lần đầu vào gặp phái đoàn Mỹ phỏng vấn, do cách làm việc của họ quá nguyên tắc và có vẻ trịch thượng, tôi quyết định đi bất cứ nơi nào, miễn rời khỏi cái mảnh đất này càng sớm càng tốt.

Khi phái đoàn Úc vào đến trại mấy hôm sau đó, tôi cảm nhận một sự khác biệt hoàn toàn: Cũng một giống da trắng mắt xanh, mà sao dân xứ Úc họ lịch sự và niềm nở quá; cũng những câu hỏi đó , mà sao họ hỏi mình với lối nói nhẹ nhàng thân thiện. Nói trắng ra, họ hỏi mình để đánh giá xem mình có xứng đáng để họ chấp nhận cho vào đất nước của họ sinh sống không, cách đối xử mang đầy vẻ chân tình, dường như đã ẩn chứa một sự bao dung? Lại cũng không tránh khỏi chuyện cười ra nước mắt. Số là trong lúc phỏng vấn, thấy trong hồ sơ tỵ nạn của tôi có ghi là biết chút tiếng Anh, họ muốn biết trình độ ra sao, nên họ hỏi học tiếng Anh ở đâu và bao giờ. Cái vốn liếng Anh ngữ của tôi lúc đó thuộc loại ba rọi (broken English), đã làm họ hiểu lầm: ý tôi muốn nói là đã học English trên mười năm trước đây, giờ chắc quên gần hết, họ lại hiểu là tôi đã học nó đến hơn mười năm. Có lẽ họ đã cho tôi là người nói láo hay kẻ khoác lác: Học đến hơn 10 năm mà nói “ẹ” quá vậy? May mắn có người thông dịch sửa lại cái chuyện hiểu lầm tai hại. Thực ra, đối với tôi, tiếng Anh chỉ là sinh ngữ thứ 3, được học mỗi tuần 2 giờ trong mấy năm bậc trung học, có bõ bèn gì. Nhân tiện, tôi đã kể cho họ nghe về 1 chuyện lầm lỗi khi tôi mới chập chững bắt đầu học Anh ngữ: Thời những người lính Mỹ mới đến miền Nam vào những năm giữa thập niên 60, khi thoảng họ có đến nhà dân làm công tác dân vận. Một bữa có 3 người lính mỹ vào nhà tôi, bố mẹ đều đi làm vắng. Tôi, một thiếu niên khoảng 15, 16 tuổi và đứa em gái khoảng 10 tuổi ra tiếp chuyện. Trong lúc bập bẹ vài câu tiếng Anh mới học ở trường, tôi chỉ đứa em gái tôi và giới thiệu: “ this is my daughter”. Ngay sau đó tôi thấy mấy chú lính G.I cứ thế mà trợn mắt lên: your daughter? Tôi càng nói “yes” thì họ càng trợn mắt lên , lại còn cười ngặt nghẹo. Mãi một lúc sau tôi mới chợt hiểu: bỏ mẹ rồi, “my sister” chứ không phải “my daughter”! Mấy người lính đã đi từ lúc nào. Câu chuyện tôi kể, đã làm cho phái đoàn Úc có được nụ cười vui. Dĩ nhiên, tôi không có gì trở ngại trên con đường nhập cư vào Úc. Đây chính là cái điểm khởi đầu của một đất nước bao dung.

Đặt chân vào cái xứ sở đầy rẫy các loại Kangaroo này mới thấy đời không như là mơ. Dân Úc thuộc loại tứ xứ, không phải ai cũng lịch sự, đàng hoàng như mấy ông bà trí thức trong phái đoàn phỏng vấn định cư hôm ấy. Trên 100 năm trước, khi viên thuyền trưởng người Anh tên Cook lần đầu đặt chân lên bờ biển của tiểu bang NSW hiện nay, Australia trở thành một trong những thuộc địa của đế quốc Anh rộng lớn. Vùng đất đã là nơi lưu đày biệt xứ cho tù nhân phạm trọng tội từ mẫu quốc. Không kể những thổ dân bản xứ với cuộc sống du mục và dân số không đáng kể, đám tội phạm và những người cai tù là những công dân đầu tiên. Sau đó, với các đợt đi tìm đất chăn nuôi và phong trào đi tìm vàng đã lôi kéo thêm số lượng đông di dân đến định cư, với hy vọng làm giàu mau chóng, Australia là xã hội đa chủng, chủ yếu vẫn là dân da trắng giống Anglo-Saxon với chính sách một nước Úc da trắng. Mặc dù chính sách này đã bị bãi bỏ một thời gian trước khi có sự định cư đông đảo của người Việt chúng ta, sự kỳ thị chủng tộc bị coi là một hành động vi phạm pháp luật, dường như nó vẫn còn tiềm ẩn trong một số người dân Úc da trắng, đặc biệt trong lớp người lớn tuổi có đầu óc bảo thủ. Những năm giữa thập niên 80 đó, những câu bài Á như: Asians go home (bọn Á châu cút về nhà đi) thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên những bức tường chắn dọc theo các tuyến đường xe lửa. Sự kiện một ông nghị viện gốc Việt ở Sydney sử dụng đám tay chân của mình để thanh toán một đối thủ chính trị là trò đê tiện đáng hổ thẹn, làm cho người Úc gốc Việt bị nhục lây. Ngay cả những chuyện nhỏ nhặt, nhưng khi được đưa ra công luận, như chuyện một người Việt, bị ông hàng xóm người Úc trông thấy đang thui một con chó để “nhậu”, đã gọi cảnh sát tới bắt quả tang và đưa ra toà án xét xử, cũng làm cộng đồng người Việt mang tiếng không ít. Một lão Úc già làm chung sở, sau khi đọc bản tin, quay về phía tôi mỉa mai: “Ê! tao có con chó, đừng tới bắt ăn thịt nghen mày”. Thật là vừa giận vừa mắc cỡ mà không làm được gì. Thật ra, đó chỉ là một thiểu số nhỏ nhoi, đa số người dân Úc có tấm lòng bao dung và nhân hậu giống như cái xứ sở hiền hoà này. Chỉ với trên trăm năm lập quốc, đất nước tuy thanh bình, chưa hề có cuộc chiến nào xảy ra trong lãnh thổ của mình, nhưng vẫn đóng góp đầy đủ cả về tiền của lẫn nhân mạng cho các trận chiến lớn trong chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, chiến tranh Thế giới lần thứ hai và ngay cả cuộc chiến VN để bảo vệ cho những giá trị mà họ tin tưởng, đã sẵn sàng chấp nhận cho hầu hết các sắc tộc trên thế giới cùng hoà đồng và hội nhập để tạo nên một đất nước đa văn hoá có trên một trăm sắc dân khác nhau. “ Home is where you are happy”, nhà (hay quê hương) là nơi bạn thấy hạnh phúc, đã và vẫn còn là bài học Anh ngữ đầu tiên tôi thích nhất mà bà giáo đã dạy khi tôi vừa mới chân ướt chân ráo bước đi trên cái vùng đất nồng ấm tình người này.

Tuần trước, một người Úc gốc Việt, Nguyễn Tường Vân, bị nhận bản án treo cổ vì tội buôn lậu 396 gr chất bạch phiến tại Singapore, một nơi rất giàu có, nổi tiếng về sự sạch sẽ, cũng được biết đến rất cứng rắn đến độ hà khắc về sự thi hành pháp luật. Dư luận, truyền thông, báo chí nứớc Úc đã bàn luận, tốn nhiều giấy mực trong những ngày qua. Mặc cho những lời van xin khẩn cầu, từ những nhà lãnh đạo có uy tín trên thế giới đến người dân thường, bản án đã được thi hành. Nguyễn Tường Vân đã lên giá treo vào sáng thứ Sáu 02/12/2005. Cho dù thất bại, người dân Úc, bao gồm từ chính phủ cầm quyền John Howard, nội các đối lập Kim Beazley, các dân biểu nghị sĩ, các tổ chức xã hội và tôn giáo đến người dân thường, đã chứng tỏ lòng nhân hậu, khoan dung vô bờ bến của họ. Đối với con người của Vân, xét đến nguồn gốc: một di dân người Việt; xét đến hành vi: tội phạm vận chuyển ma túy, thế mới thấy lòng nhân ái và sư tha thứ của người dân Úc quý hóa biết chừng nào.

Moị chuyện đã qua, cho qua, ngày thứ Tư 07/12, ngày tang lễ cho Vân được tổ chức tại nhà thờ chánh toà St Patrick tại Melbourne. Tôi muốn đến đó để chứng kiến một sự kiện khá lạ thường, một tang lễ trọng thể cho một nhân vật tầm thường, không thuộc dòng chính mạch, phạm tội hình sự bị hành hình. Điều quan trọng hơn , tôi đến để cảm nhận sự bao dung của người dân Úc đang được thể hiện. Tang lễ đã được thông báo khởi sự vào lúc 11giờ sáng. Rời nhà vào lúc 10.30, đoạn đường lái xe mất khoảng 20 phút, tôi nghĩ mình sẽ đến kịp giờ, không ngờ khi gần đến điạ điểm thì bị kẹt xe, đến nơi được thì đã trễ, chạy lòng vòng một lúc lâu nữa để tìm một chỗ đậu xe khá xa thánh đường, khi lội bộ đến nơi thì đã 11.30. Bài thuyết giảng của Linh mục Peter Hansen đã đi vào đoạn kết. Bên ngoài hàng rào sắt bao quanh thánh đường, ngay phiá trước tiền đường có khoảng vài trăm người tham dự, phía trong sân cũng có một đám đông tương tự. Phía hông trái là đoàn xe tang 4 chiếc toàn màu trắng. Cố gắng len lỏi vào phía trong thánh đường chật ních những người, tôi nhìn thấy chiếc quan tài màu hạt dẻ nằm giữa nhà thờ, trên nắp một vòng hoa lớn, sau đuôi là di ảnh của Vân. Bà Kim, mẹ Vân bận một chiếc áo trắng phía trong, áo vest(gi lê) đen phía ngoài, tât cả anh em và bạn bè đều mặc y phục màu trắng, những bộ suit chứ không phải áo vải xô, có lẽ là sự kết hợp giữa sự trang trọng dành cho người quá vãng của Tây phương và màu tang (trắng) Việt Nam. Những người tham dự gồm đủ mọi thành phần sắc tộc trắng, đen, vàng, già trẻ lớn bé. Số lượng giới trẻ tham dự rất đông, khoảng 1/3 là Á đông, có lẽ người Việt. Trên bàn thờ, khoảng trên dưới 30 linh mục (LM) cử hành đồng tế do LM P. Hansen chủ tế, trong số có 5,6 vị là người Việt. Một vị giám mục cũng có mặt với tư cách người tham dự. Vì sau nghi thức rước lễ, số lượng người nối đuôi chia buồn với gia đình quá đông, làm buổi lễ kéo dài lâu, tôi lại bận việc vào buổi chiều, nên phải ra về sớm, xin được để báo chí Úc tường trình thêm vào ngày hôm sau. Tiện xin được mở ngoặc để nói sơ về LM Peter Hansen, người chủ tế tang lễ, vì tôi được biết chút ít về ông. P. Hansen là một người Úc gốc Đức Cách đây chừng 7,8 năm, ông về làm việc tại giáo xứ nơi tôi đang ở với chức vụ phụ tá cho LM chánh xứ Kevin Dillon. Trong bài thuyết giảng trước khi P. Hansen tới, cha Dillon có nói với mọi người rằng:”Chúng ta thường hay đùa rằng: Luật sư là những người nói láo (một lối chơi chữ của Anh ngữ “Lawyers are liars), từ nay xin thận trọng, vì chúng ta sắp có một cha phó từng là luật sư. Ông LM từng là luật sư đó chính là LM P. Hansen. Hansen lúc đó nói tiếng Việt khá trôi chảy (có thể thuyết giảng trong nhà thờ bằng tiếng Việt) và đó là lý do tôi quen ông. Ông tỏ ra rất nhạy bén. Trong 1 buổi tiệc hậu Christmas ở nhà tôi có ông tham dự, khi một người quen trong gia đình kể chuyện quá khứ về những ngày trước 30 tháng 04/ 1975 tại miền Nam VN và gọi đó là ngày giải phóng, ông chỉnh ngay và bảo: phải gọi là ngày Sài Gòn sụp đổ mới đúng.

Ông thường dùng bộ chén lễ bằng sành mà ông cho biết đã được đặt làm tại VN để dâng thánh lễ hằng ngày, chứng tỏ ông rất bình dân. Hai năm sau đó, ông được chỉ định công tác giúp đỡ cho những người nghiện ngập ma túy, đặc biệt là giới thanh thiếu niên, tôi không có dịp gặp lại ông từ dạo ấy. Chính nơi đây dẫn đến sự việc ông liên quan tới việc biến cải Nguyễn Tường Vân cho đến những giây phút cuối đời kể cả hậu sự của Vân. Có nói qúa không khi bảo rằng Peter Hansen, một hiện thân của sự bao dung của nước Úc?

Trở lại với buổi tang lễ, Ký giả Karren Kissan của nhật báo The Age, tờ báo có thể nói là có uy tín nhất tại Australia đăng ngay trang nhất bài với tựa đề: Thành phố chia rẽ khi một biểu tượng được đặt vào nơi an nghỉ (City divided as a symbol laid to rest) viết:

“ Trong thời đại của những chương trình TV sống thực, ai cũng có thể trở nên nổi tiếng, và trong thời đại điện tử tân kỳ, ai cũng có thể làm phim, bất kể bằng phương cách nào. Hãy hỏi bà Kim, người mà hôm qua đã ngồi cầu nguyện suốt buổi trong một tang lễ rất lạ đối với bà, trong khi có nhiều người bà chưa từng gặp trước đó với máy chụp hình hoặc máy quay trên tay, cố chụp hình, quay phim bà…Điều đó xảy ra khi con người trở thành biểu tượng, nguyên nhân của tấn bi kịch gia đình, thành món ăn của giới truyền thông trong nhiều tuần lễ, khi hương khói cuồn cuộn trên cỗ áo quan cùng với sự tranh cãi cũng cuồn cuộn chung quanh con người đang nằm trong đó. Khi những người trong thánh đường cử hành nghi lễ chào đón một cuôc sống khác của một tử tội mà họ tin là sẽ tái sinh, những người khác bên ngoài lại giận dữ vì sự chú ý quá đáng của dư luận trong trường hợp này: Một Ông Bill ở Broadford nói với Jon Faine của đài ABC: “Tôi hoàn tòan lộn mửa vì sự tôn thờ Nguyễn quá độ: 1 phút im lặng, lời khen ngợi của đám luật sư, sư tham dự tang lễ của các chính khách…để dành cho tên tôi phạm ma túy? Người ta không coi xét đến những hậu quả gây ra bời các hành động tội ác này. Bọn chúng tham tiền và chẳng thèm để ý đến những đau khổ mà bọn chúng mang lại cho Australia. Taị sao lại còn đối xử với chúng như những anh hùng sau chiến cuộc? Ông tài xếi taxi bảo:” Nó biết luật lệ của quốc gia đó mà!Anh làm ác, anh phải có thời gian thụ án phạt (you do the crime, you do the time). Tuy nhiên, đối với nhiều người trong thánh đường, Nguyễn đã không được phép “do the time”, em đã bi treo cổ. Cái chết của em, hay đúng hơn, cái nguyên nhân của cuộc chiến chống lại án tử hình, đã thu hút nhiều tầng lớp người khác nhau ở Melbourne ngày hôm qua: những người Ấn Độ Giáo với bộ sari, người Hồi Giáo với chiếc khăn mạng choàng, một giảng viên triết học Công Giáo, linh mục Chính Thống, một tu sĩ Phật Giáo trong bộ cà sa. Irene Wilson, bà đang nghiên cứu thần học, đã vượt 350 km từ Mount Beauty để tham dự, bà muốn đến để chia buồn, cũng là để chứng tỏ người dân Úc đầy lòng trắc ẩn và tình bạn. Bà nói” Người dân Úc đặt trái tim trên tay họ như những con người có lương tâm . Reta Kaur, người Ấn đến từ Malaysia nói: ” Singapore là thành phố bằng đá với những con tim chai đá.” Stan, người Balan cho rằng:” anh ta còn quá trẻ, anh đã làm bậy, dĩ nhiên , nhưng án phạt quá nặng. Bao nhiêu người nhập lậu hàng tấn mà chả bao giở bị trừng phạt.”

Cuối bài viết Karren kết luận: “Trong khi lên rước lễ, một người đàn ông có dáng dấp Ái Nhĩ Lan đã không kiềm chế được xúc động, làn môi dưới luôn run rẩy. Môt bà cụ dáng dấp dân Địa Trung Hải vừa cúi xuống đặt nụ hôn vào cỗ quan vừa cố lau nước mắt. Một người Ấn cũng bước lên để nhận sự chúc lành (từ linh mục Công Giáo). Sự ra đi của Nguyễn đã tạo nên sự đoàn kết người Úc lại trong việc chống lại án tử hình, nó còn nối kết họ lại trong cái ý nghĩa như thế nào để là người dân Úc.

Trong khi đó, ký gỉa Steve Butcher trên tờ The Age, trong trang 2 lại chú trọng tới những diễn tiến sau buổi lễ. Ông viết:

“ Bắt đầu chỉ là tiếng vang nhè nhẹ sâu khuất đâu đó trong đám đông, rồi bỗng trở thành tràng pháo tay liên tục rộn rã; tuy không vang dội và điên cuồng, nhưng cũng là cử chỉ lạ lùng cho người tham dự buổi tang lễ. Khi chiếc áo quan của Vân từ từ tiến ra khỏi thánh đường nó đã khơi dậy một hành động thông thường và đơn giản nhất của công luận. Trong 6 tuần lể trước ngày bị xử tử ở Singapore, mạng sống của Nguyễn và cuộc vận động để cứu mạng sống ấy đôi khi đã làm chia rẽ đất nước. Có lẽ nhiều người trong số khỏang 4000 người tham dự tang lễ: Người Úc, Úc gốc Việt, linh mục, tu sĩ, chính trị gia, luật gia hay những công dân bình thường đều chỉ muốn một điều gì đó khi họ cùng vỗ tay sau buổi lễ trang nghiêm dài tới 100 phút . Trong số có Douglas Wood, một con tin bị bắt và được giải cứu ở Iraq. Các nhà chính trị có các nghị sĩ tiểu bang Bruce Mildenhal, Geoff Hilton, Kirsty Marshall, Richard Wynne, Nguyễn Sang và một dân biểu liên bang bà Anna Burke…Trong tang lễ có phần công bố lời thỉnh cầu viết tay của người chết xin được làm những gì trong buổi lễ, và đoạn nhật ký cuối cùng, Vân viết 2 giờ trước khi lên giá treo: “ Khi tôi nằm ở đây lắng nghe những lời cầu nguyện cho tôi, tôi sẽ đo lường lại tất cả những gì đã xảy ra và những gì sẽ đến” Gia đình Vân là Phật tử, nhưng Vân đã trở thành tín đồ Công Giáo sau ngày bị kết án. Trong thánh lễ, LM Hansen đã tấn công vào những tiếng nói của thiểu số muốn khuấy động cho sự trả thù. Ông cảnh báo rằng những điều đó chỉ tạo nên một thế giới với sự tàn nhẫn đến mức không thể nào chịu nổi. Ông Lasry, đại diện cho đoàn luật sư của Vân, nói về bài học “lớn” mà Vân đã dạy về cái mà ông gọi là”năng lực của sự thay đổi, sự biến chuyển, sự hoàn lương” ông nói:” trong 2 năm cuối đời của Vân, sự ích kỷ đã nhường chỗ cho độ lượng, sự thành thực đã thay thế dối trá, sự đòi hỏi được nuông chiều được thay bằng đời sống tâm linh. Bất cứ ai chứng kiến cũng phải cảm động.

Nhật báo Herald-Sun, tờ báo của ông đại tỷ phú truyền thông người Mỹ gốc Úc Rupert Murdoch, có số phát hành lớn nhất nước Úc có bài của Terry Brown trong trang 3:” Cathedral full of forgiving”. Ông viết:

“Ngày hôm qua, chuông nhà thờ đã ngân lên trong 10 phút khi những người tham dự tang lễ ngồi chật các hàng ghế, đứng chật những lối đi sát các vách tường, tràn ra cả ngoài sân nhà thờ. Họ đến từ khắp nơi trên nứơc Úc, có người từ tận Singapore. Sau nghi thức rước lễ, số người bao quanh 2 mẹ con bà Kim và Khoa đã quá đông và mất thì giờ đến nỗi các vị chủ tế phải can thiệp: “ Xin vui lòng về chỗ ngồi, quý vị đang choán hết thỉ giờ của buỗi lễ”. Hai bài hát được Vân yêu cầu hát trong tang lễ là Ave Maria và Amazing Grace. Vân cũng yêu cầu với tất cả mọi người tham dự, xin được thay thế lời chúc bình an, thường là những cái bắt tay, bằng những vòng ôm thân thiết. Ở đoạn cuối của lời vĩnh biệt viết trong những giây phút cuối, Vân viết:” Hãy tha thứ cho tôi vì những tội lỗi tôi đã phạm và xin chấp nhận những lời xin lỗi thành thật của tôi. Đã đến giờ thứ 11. Việc của tôi bây giờ đã xong”.

Đúng thế! Moị việc đã xong. Tôi tiếc là đã không tham dự hết buổi lễ, không đưa được em đến nơi an nghỉ cuối cùng. Cũng như bao người khác đã sẵn sàng tha thứ vì em biết hối cải, cũng như bao người khác, tôi đến để cảm nhận cái lòng bao dung vĩ đại của đất nước này, tôi đến để học cái bài học quan trọng của đời người là sự biết hướng thiện, cởi bỏ gươm đao vũ khí là thành Phật. Australia khởi đầu được tạo dựng từ những tội nhân, nhưng ngày nay đất nước này là thể hiện của tình người, của sự nhân ái, của lòng bao dung. Buổi chiều, để tránh những xúc động do ảnh hưởng buổi tang lễ của những người chứng khiến tận mắt, tôi thử làm cuộc khảo sát nhỏ một số bạn đồng sở, những người không đi tham dự buổi lễ, cũng để tránh có thiên kiến, tất cả khoảng 20 người tôi chọn phỏng vấn không có người Việt. Câu hỏi là: Bạn có đồng ý với bản án treo cổ Nguỹên Tường Vân? Tại sao? Nếu không thì bản án nào thích hợp? Thật là ngạc nhiên với kết quả: không ai đồng ý. Tất cả đều cho bản án quá nặng, 3 người cho án chung thân, số còn lại từ 20 đến 25 năm. Một số người cho rằng, nếu phải thi hành bản án , nên chọn phương pháp chích thuốc, phương pháp treo cổ quá dã man trong thời đại này. Lý do:

- Chống án tử hình.

- Vân còn trẻ và biết hối lỗi.

- Chỉ là một con lừa chở hàng.

- Không phạm tội trực tiếp gây án mạng.

Với sự khảo sát nho nhỏ này, tôi thấy rõ một điều: dường như cái đất nước bao dung này đã tạo dựng hay biến đổi nên những con người hiền hoà như thế. Từ ông thủ tướng, hay những vi quyền cao chức trọng đến người dân lao động bình thường đều có những cảm xúc như nhau. Đất nước thanh bình đẻ ra những tấm lòng nhân hậu. Đừng nói với tôi rằng, theo sự khảo sát của truyền thông báo chí, trong những ngày qua, số ủng hộ và chống bản án nói trên gần như tương đương: khoảng 45% cho mỗi phe, một số không ý kiến. Trong xứ sở tự do như Úc đây, được trên 50% một chút đã là cao và đủ để gọi là “có chính nghĩa”.

Cuối cùng, về tang lễ của Vân, tôi đến không để cầu nguyện cho em. Em đã được người dân Úc tha thứ, Thượng Đế còn nhân từ độ lượng hơn nữa chắc chắn đã tha thứ và đưa vòng tay rộng mở đón em. Tôi đến để cầu nguyện cho chính tôi, để học những bài học đắt giá của em và của tất cả những người khác đang dạy: sự hối cải, lòng khoan dung và sự tha thứ.

Với Australia, tôi cảm tạ một đất nước bao dung và thấy mình thật hạnh phúc vì đã chọn nơi này làm quê hương thứ hai, dĩ nhiên đôi khi cũng khó thương.

Australia, 10/12/2005