Showing posts with label Diễn đàn dân chủ. Show all posts
Showing posts with label Diễn đàn dân chủ. Show all posts

Về hoạt động của Phong Trào Dân chủ

Góp ý cùng anh Nguyễn Vũ Bình

Bài tham luận Tương lai nào cho phong trào dân chủ Việt Nam (PTDCVN)của anh Nguyễn Vũ Bình là một bài nhận định công phu và đầy tâm huyết. Thể theo lời đề nghị của anh ở phần kết luận cuối bài, người viết xin bàn thêm về một vài ý kiến cá nhân như một góp gió thành bão, đi vào chi tiết một hai khía cạnh mà tác giả đã nêu lên trong bài viết trên. Xin được đóng góp theo khả năng hiểu biết trong ba vấn đề: đường hướng rõ rệt cho tương lai của phong trào, sự đoàn kết tập hợp các lực lượng dân chủ và dự án giám sát sử dụng viện trợ nước ngoài.

Những đường hướng rõ rệt cho tương lai của PTDCVN.

1.- Ảnh hưởng lên giới bị trị

Như nhận định của bài trên, giới bị trị tại VN hiện nay dù bị đàn áp, bóc lột nhưng vẫn thờ ơ trong việc tham gia đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho chính mình vì họ không hiểu được tại sao cuộc sống của mình lại cực khổ như vậy. Khi chia xã hội VN hiện tại ra thành hai giai cấp: thống trị và bị trị, ta thấy rõ giới thống trị chính là đám lãnh đạo độc tài chuyên chính nắm giữ hết mọi uy quyền, tài sản và tiền bạc của dân tộc. Thành phần còn lại là giới bị trị bao gồm giới trí thức, còn gọi là lao động trí óc và lao động tay chân. Vì vậy, những tổ chức, phong trào và cả cá nhân đang đấu tranh cho dân chủ cũng cần nhớ rằng mình nằm trong giới bị trị, và sự dân thân đấu tranh, trước hết là cho chính bản thân, do đó cần có sự thông cảm và hoà đồng với các thành phần lao động tay chân để tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng thực tế của họ, cũng như thâu nhập thêm những dữ kiện và kinh nghiệm quý báu và thực tiễnđể hoạch định, biến hoá các phương pháp đấu tranh theo từng giai đoạn sao cho có hiệu quả hơn. Câu hỏi đặt ra là việc gây ảnh hưởng như thế nào để lôi cuốn được đa số quần chúng cho có phần hiệu quả?

Trở ngại lớn nhất cho một phong trào đấu tranh hoà bình bất bạo động là việc truyền thông bị bưng bít, tin tức không được phổ biến hay bị cắt xén, xuyên tạc. Trình độ kiến thức khái quát về quyền lợi và nghĩa vụ chân chính trong một đất nước có tự do dân chủ nhân quyền bị vo tròn bóp méo, giải thích vòng vo sai lạc cho hợp với các chính sách có lợi cho giới cầm quyền. Sư thật về việc điều hành đất nước một cách tồi tệ của lãnh đạo CSVN không đến được mọi tầng lớp nhân dân. Không biết thì không hiểu, không có đấu tranh đòi hỏi. Người dân bị bóc lột trấn áp, sống trong quằn quại mà chẳng biết nguyên do nên vẫn thờ ơ là lẽ đương nhiên.

Ngày nay, với thời đại tin học, thông tin truyền đi tận cùng thế giới chỉ bằng một cái nhấo chuột, sự bưng bít không còn hiệu nghiệm như xưa, nhưng người dân lao động với những khó khăn về trình độ học vấn, về sự thiếu ăn thiếu mặc,vẫn còn nhiều khó khăn trong việv tiếp cận và tận dụng các lợi ích của kỹ thuật truyền thông nhanh nhạy này. Ngay cả những người có trình độ học vấn cao với trở ngại tường lửa, việc kiểm soát hệ thống internet, gây khó khăn cấm đoán, phá hoại của giới cầm quyền thống trị bằng đủ mọi sách lược, thì việc tạo ảnh hưởng và bành trướng phong trào dân chủ đến quần chúng gặp muôn vàn khó khăn là lẽ dĩ nhiên. Để vượt qua trở ngại này,ngoài việc phổ biến rộng rãi các cách vượt tường lửa, người trong nước có thể sử dụng những phương tiện in ấn rất tiện lợi, rẻ tiền hiện nay, chúng ta in ra những mảnh thông tin nhỏ vắn tắt, đơn giản về quyền hạn của công nhân, công đoàn theo công ước quốc tế, quyền làm chủ tài sản của nhân dân,sự cần thiết về một xã hội bình đẳng và một ngành truyền thông độc lập là phương pháp chống tham nhũng kiến hiệu nhất, làm sao để đương đầu với những trấn áp bóc lột của quan chưc cầm quyền mà không bị quy kết vi phạm pháp luật. Nội dung bước đầu tiến đến quần chúng nói chung,nên thiên về xã hội và đời sống, tránh phần chính trị nhạy cảm làm lý do cho nhà cầm quyền CSVN chụp mũ quy tội để có cớ bắt bớ giam cầm.

Tìm ra đường lối tiếp cận trực tiếp an toàn với giới công nhân, nông dân, các dân oan và các phong trào các tín đồ tôn giáo hiện nay, gơị ý cho họ biết về những chính sách mâu thuẫn và đầy bất công của nhà cầm quyền, chẳng hạn nhân viên công chức nhà nước đảng viên nghỉ hưu không làm việc lãnh lương hưu 2,3 triệu mỗi tháng, trong khi công nhân làm việc đầu tắt mặt tối chỉ kiếm được 7 hay 8 trăm ngàn đến một triệu, một bất công thật vô lý: người đi làm đóng thuế nuôi người không làm việc, trong khi những người này lại lãnh lương cao hơn; những khoảng cách quá lớn về sự giàu nghèo trong xã hội VN, người chơi xe hàng triệu đô la, còn người nông dân cơm không đủ ăn: tiền của đó ở đâu mà có? Sự vô lý của việc tài sản chung của đất nước, ngân quỹ quốc gia vốn là sự đóng góp công sức, thuế má của toàn dân để chi trả cho một bộ máy cầm quyền có tới hai đầu não điều hành song song: đảng và nhà nước, vừa làm tiêu tốn gấp đôi kinh phí của đất nước, vừa làm chồng chéo, phức tạp gây khó khăn tốn kém công lao, tiền bạc, thời gian của nhân dân để cố đi qua nhiều cửa quyền của hai hệ thống, tạo ra quốc nạn tham nhũng hối lộ, làm kiệt quệ nền kinh tế quốc gia. Những lý lẽ đơn giản, đi thẳng vào đời sống sinh hoạt hàng ngày, những cấp thiết của người dân sẽ làm cho họ chú ý và tham gia nhiệt tâm vào phong trào dân chủ.

Việc cụ thể trước mắt là nghiên cứu những điều kiện khó khăn hạn chế trong nước để cứu giúp các anh chị em lãnh đạo thành lập Công Đoàn độc lập đang bị kết án, giam cầm một cách vô lý. Nếu có thể qua các luật sư đoàn trong và ngoài nước để tháo gỡ hay ít ra án tù được giảm bớt,các chi phí liên quan, người viết tin chắc chắn người Việt hải ngoại sẽ có những hỗ trợ cần thiết . Đây cũng là một vận động tốt vừa thúc đẩy cho sự phát triển của tổ chức Công Đoàn Độc Lập đến giới công nhân, vừa mang tiếng nói dân chủ đến với họ, cho họ biết rằng đòi hỏi những quyền lợi tối thiểu cho con người, , sự tự do ngôn luận, tự do thông tin và nhận thông tin, quyền bình đẳng, công lý là một trong những mục tiêu chính của dân chủ. Quảng bá cái tư tưởng: mình vì mọi người, mọi người vì mình. Mọi người, mỗi người đều phải góp phần tham gia nếu mong muốn cho tương lai của cá nhân, gia đình mình được vươn lên khá hơn. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, sự khủng hoảng kinh tế tại VN đang trở nên hiện thực với sự lạm phát phi mã đang làm giới công nhân với đồng lương cố định điêu đứng. Đối với những hiện tượng xã hội khác, phong trào dân oan khiếu kiện, các tôn giáo cầu nguyện đòi tự do tôn giáo, đòi lại tài sản nhà đất bị tịch thu hay mua bán trái pháp luật, thì việc vận động cho dân chủ cũng rất quan trọng, mặc dù ở trong trạng thái tế nhị hơn.

Phong trào dân chủ có thể giúp đỡ quần chúng trong các cách thức thảo đơn và cách tiếp xúc với những nhân vật, cơ quan của nhà cầm quyền có trách nhiệm trực tiếp đến vấn đề của họ, giúp người có cùng nỗi khổ đoàn kết thành nhóm để tạo áp lực mạnh hơn đến những kẻ có trách nhiệm, bắt họ phải phải giải quyết không né tránh, đổ thừa hoặc trì hoãn để vô hiệu hoá; giúp cơ hội gặp gỡ trao đổi để tạo thành những nhóm đấu tranh đòi hỏi lớn để việc bị đàn áp khó xảy ra hơn. Đồng thời, hướng dẫn tập thể từ từ đi đến một hướng đòi hỏi giải quyết sâu xa hơn, đến tận gốc rễ của vấn đề là do chính sách độc tài toàn trị của nhà cầm quyền nên mới nảy sinh những bất công xã hội ảnh hưởng đến người dân, chứ không chỉ tập trung trong việc đòi hỏi một ít quyền lợi cá nhân hay của một tập thể, một tôn giáo, chẳng hạn một khu đất, một mảnh ruộng hay một bất động sản.

2.- Ảnh hưởng lên giới học thức sinh viên.

Giới sinh viên trí thức là rường cột của quốc gia và là những nhà lãnh đạo tương lai của đất nước. Họ càng tham gia đông đảo vào những vấn đề của dân tộc thì đất nước càng tiến triển mạnh. Rất tiếc, hiện nay, số người trẻ thực sự có suy tư về hiện tình đất nước còn ít. Sự việc biểu tình tự phát của sinh viên tại 2 thành phố lớn và hội nghị các luật gia tại Sài Gòn biểu quyết chống Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ Hoàng Sa Trường Sa của VN là những minh chứng rõ rết về nhiệt tâm yêu nước của sinh viên trí thức. Tuy nhiên vẫn còn lưa thưa đơn lẻ, tự phát, chỉ đánh động được tâm huyết của họ vì có sự đụng chạm đến yếu tố chủ quyền quốc gia và lòng tự ái dân tộc.

PTDCVN cần thúc đẩy giới trí thức trẻ hăng hái tham dự vào những mục tiêu đi xa hơn, mang tính đại đồng , vượt khỏi biên giới dân tộc để chú tâm đến tính xã hội của nhân loại, không thờ ơ trước những đau khổ của người khác. Thuộc thành phần học thức, có trình độ lý luận, chắc chắn họ sẽ dễ dàng phân biệt bề mặt bề trái, đâu là chân lý ,đâu là lừa bịp mị dân. Hãy hình dung,nếu chỉ cần 5% trong số hàng chục ngàn người trong ngành truyền thông báo chí đang phục vụ cho trên 600 tờ báo và hàng trăm các hệ thống truyền thanh truyền hình của VN sẵn sàng nói lên tiếng nói trung thực, phản ảnh những uất nghẹn của nhân dân, đừng về phía những người bị trị, thì bức tường bưng bít thông tin sẽ sụp đổ từng mảng ra sao và tiếng nói dân chủ sẽ bay cao và vang xa biết chừng nào?

3.- Ảnh hưởng lên cả giới thống trị.

Lực lượng thống trị tại VN hiện nay bao gồm giới cầm quyền lãnh đạo chính trị các cấp, lực lượng quân đội, bộ máy công an vũ trang và các đảng viên CSVN. Chắc chắn trong hàng ngũ đông đảo của họ không thể không có những người còn lương tâm, có suy tư trăn trở với những vấn nạn hiện nay của đất nước , biết đau nỗi đau của người dân thấp cổ bé miệng. Trở lực là họ đang nằm trong một hệ thống vận hành một chiều quá khắc nghiệt, dưới sự kiểm soát chặt chẽ khó lòng thoát ra. Đồng thời những bổng lộc có được nhờ lòng trung thành với đảng, với chế độ quá hậu hĩ, chưa kể đến khả năng bị nghiền nát khi đơn độc quay đầu chống lại chế độ toàn trị,vì sự tiếc nuối một ảo tưởng hào quang của một quá khứ đối với họ còn quá oai hùng,trong khi sự thật cứ đang từ từ phơi bày thì lại đảo ngược rất ê chề cay đắng.Tuy thế với sự nhạy bén của thời đại tin học và sự hội nhập toàn cầu của VN, việc thoát ra khỏi cỗ máy ghê gớm đó đã trở thành khả thi, miễn là con người chịu chấp nhận quay về với lẽ phải.

Bản thân anh Nguyễn Vũ Bình, anh Phạm Hồng Sơn cùng những nhà dân chủ miền Bắc khác đang xuất hiện ngày càng nhiều là những minh chứng hiển nhiên, gồm có đủ thành phần từ nhà văn, nhà báo, trí thức luật gia đến các cựu lãnh đạo, tướng tá trong quân đội và cả trong ngành công an cảnh sát. Khi PT DCVN nối kết được thêm nhiều hơn nữa, giả thiết có trong hàng ngũ lãnh đạo CSVN đương nhiệm, việc xuất hiện một nhân vật tầm cỡ như ông Gorbarchev làm đòn xoay chế độ là điều có thể xảy ra. Vả lại, ngay cả khi không có chuyện đó, PT DCVN cũng có thể vạch ra cho nhân dân và chính giới thống trị nhìn thấy những sai trái trong việc độc tài toàn trị đất nước của họ, phân tích cho họ về những ảnh hưởng nguy hại cho dân tộc từ tầm gần đến tầm xa do các phương pháp quản lý điều hành tồi tệ của họ, với một chút lương tâm con người, hoặc một sự lo sợ khi nghĩ đến những hậu quả sau này xảy đến cho chính bản thân, họ sẽ ngưng lại hoặc bàn tay bớt đi sự tàn bạo trong việc trấn áp bóc lột nhân dân. Nhờ thế, PT DCVN có cơ hội dễ dàng hoạt động và phát triển mau chóng.

Nói tóm tắt, khi nhà cầm quyền CSVN nhất quyết nắm chặt ba quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp lại muốn khống chế luôn cả đệ tứ quyền (báo chí độc lập với nhà nước) thì hướng đi cần thiết của PT DCVN là từng bước phải lấy lại quyền này bằng việc cố gây ảnh hưởng đến mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần giai cấp, kể cả những người trong giai cấo thống trị. Đó là phương cách hoà bình hiệu quả nhất để đấu tranh cho dân chủ, tự do và công lý, phương tiện hữu hiệu nhất đễ người dân tiếp cận và thấu hiểu về dân chủ. Hiện nay, tại Sài Gòn đã có một Câu lạc bộ các nhà báo độc lập đã thành hình, với phương tiện chính yếu là trao đổi giao lưu trên các blog cá nhân, nơi nhà nước CSVN chưa kiểm soát được. Hy vọng chúng ta sẽ hỗ trợ mạnh mẽ để nhóm CLB này phát triển mạnh mẽ đến nhiều nhóm khác và có thể ảnh hưởng tới những phương tiện truyền thông khác, sẽ chọc thủng bức tường bưng bít thông tin của nhà cầm quyền. Từ đó, thông tin sẽ là nguồn mang sự thật ra ánh sáng. Không ai chối bỏ được sự thật. Sự thật sẽ quét đi bóng tối của dối trá lừa bịp. Sự thật sẽ mang đến các quyền tự do, dân chủ ,bình đẳng và công lý đến người dân.

Sự đoàn kết các lực lượng dân chủ trong và ngoài nước.

Làm sao để có sự đoàn kết tạo sức mạnh? Đây là một nan đề không dễ gì giải quyết. Trước hết , phải nói rõ sự phân tán lực lượng này đến từ những khác biệt về tư tưởng, lối suy luận, hành động và cũng từ những khoảng cách địa lý chứ không hẳn là do những chia rẽ sâu sắc về mục tiêu đưa đến hậu quả đối đầu hay thù nghịch. Dân chủ cho VN là mục tiêu chung.

Không như một thể chế độc tài toàn trị, khái niệm dân chủ tự nó đã bao gồm một sự kết hợp lỏng lẻo. Nếu chặt chẽ quá thì dân chủ sẽ mất đi ý nghĩa. Do vậy, sự lỏng lẻo trong kết hợp của PT DCVN có những ưu khuyết điểm của nó. Những điểm yếu, anh Nguyễn Vũ Bình đã nói đến trong bài viết, mà điểu đáng nói là sự làm trì trệ tiến trình dân chủ hoá đất nước. Ở đây sẽ không nhắc lại nữa.

Nói về ưu điểm, sự thiếu thống nhất các lực lượng dân chủ thành một tổng hợp lại là một trong những nét đẹp của dân chủ, một trong các yếu tố then chốt tạo nên dân chủ, như một vườn hoa có đủ loại sắc màu. Tự do trong tư tưởng không thể bắt buộc mọi người có cùng lối suy nghĩ cho cùng một sự việc. Nó không tạo được sức mạnh nhất thời, nhưng tránh được hiểm hoạ quay trở lại sự độc tài như ta đang chứng kiến tại Nga và một số nước Đông Âu cũ . Nhìn vào các nền dân chủ ổn định trên thế giới, ta thấy họ có hàng trăm hệ phái lực lượng chính trị khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau nhưng xã hội vẫn hài hoà, kinh tế vẫn phát triển và dân chủ vẫn thăng hoa. Sự việc trăm hoa đua nở khác nhau, có khi đi ra ngoài hệ chính thống, trong tất cả mọi lãnh vực, đặc biệt trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật còn dẫn đến những ý tuởng mới lạ, những phát minh thần kỳ. Lãnh vực chính trị cũng không ở ngoài quy luật.Người Việt hiện đang cư ngụ tại hầu hết những quốc gia có nền dân chủ tốt đẹp nhất, tuy vậy lại rất đa dạng. Như thế, hãy để cho mọi người cùng có cơ hội đóng góp kinh nghiệm của họ vào PT DCVN. Tự do là nền tảng của dân chủ, đặc biệt, tự do tư tưởng và phát biểu. Có được nền tảng vững chắc, căn nhà dân chủ mới bền vững.

Mặt khác, việc kết hợp dân chủ ở trong nước, ngoài nước và giữa trong và ngoài cũng rất khó khăn. Trong nước thì bị giới thống trị cấm cản, ngoài nước với tình hình trải mỏng toàn cầu quá rộng lớn, cộng thêm những chi phối bị gò bó trong các hệ thống chính trị, văn hoá, xã hội, truyền thống địa phương khác biệt gây trở ngại trên hình thức cho việc kết hợp. Rồi, cả trong và ngoài nước đều có dị biệt giữa những cá nhân, những tổ chức. Tập thể người Việt hải ngoại có rất nhiều hội đoàn, đoàn thể, tổ chức, tuy cùng chung một danh nghĩa người Việt tự do hoặc tỵ nạn CS, nhưng đa số thiên về các hoạt động xã hội mang tính chất phục vụ địa phương, hoặc hướng về VN với tính cách chuyên ngành, nhân đạo, tương trợ. Họ vẫn tham dự vào các hoạt động chính trị như biểu tình, hội họp, ủng hộ dân chủ… nhưng thường chỉ nhất thời, đột xuất. theo từng vụ. Những tổ chức còn lại chuyên chú tâm vào việc đấu tranh dân chủ cho VN lại đủ mọi khuynh hướng. Có thể nêu ra một vài khuynh hướng chính:

- Khuynh hướng triệt để không khoan nhượng với chủ trương CS chỉ có thể thay thế, không thể thay đổi. Do đó muốn có dân chủ phải giải thể chế độ CS (bằng phương pháp bất bạo động).

- Khuynh hướng ôn hoà: chấp nhận đảng CS là một thực thể chính trị trong sinh hoat chính trị đa đảng. Đòi hỏi dân chủ theo tiến trình bước đi từng bước.

- Khuynh hướng dưạ vào quốc tế, đặc biệt Hoa Kỳ và Tây Âu làm áp lực với CSVN để đòi thực thi dân chủ.

- Khuynh hướng coi lực lượng người Việt (cả trong và ngoài) là yếu tố áp lực chính, vận động quốc tế chỉ phụ lực.

- Khuynh hướng kiến tạo một cơ quan đầu não mà người dân trong nước và quốc tế nể trọng và uy tín để làm áp lực đối thoại về dân chủ với nhà cầm quyền CSVN.

- Khuynh hướng lấy quần chúng trong nước là sức mạnh chính, hài ngoại chỉ nên giữ vai trò hỗ trơ…

Như vậy, ta thấy một sự đoàn kết tập họp lực lượng rất khó thực hiện. Nhưng điều này
không nên là một thất vọng. PT DCVN vẫn có thể phối hợp cùng nhau hoạt động cho mục tiêu chung, sát cánh nhau trong những phương cách cùng chia sẻ, chấp nhận những đối sách khác biệt là nhiều mặt trận, nhiều con đường, ít nhiều đều có hiệu quả.

Đến đây, người viết không thể không nhắc đến khối 8406, một phong trào liên hiệp các tổ chức trong và ngoài nước dã được thành lập và có tiếng vang rất xa trong cộng đồng quốc tế. Người viết tin rằng dù trong năm qua, đã bị đánh phá trù dập khá nặng, tiếng nói của khối có trầmxuống, nhưng lực lượng vẫn còn nguyên vẹn. Chúng ta chỉ cần tiếp tục tham gia,hỗ trợ và gầy dựng cho nó chỗi dậy mạnh mẽ , thế lực và nổi bật hơn.

Về dự án giám sát sử dụng viện trợ nước ngoài.

Viện trợ nước ngoài cam kết trong năm 2007 đạt trên 5 tỷ đô la, đầu tư ngoai quốc trên 20 tỷ, coi như gấp 4 lần. Trong số trên 5 tỷ viện trợ đó, chỉ một số nhỏ thuộc loại viện trợ không hoàn lại bao gồm các viện trợ về nhân đạo, y tế , các chương trình tu nghiệp học bổng có từ chính phủ các nước cấp viện. Đa số còn lại là nguồn tiền được cho vay với tỷ lệ phân lời thấp từ các tổ chức quồc tế như Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân Hàng Thế Giới (WB), Ngân Hàng Phát Triển Á Châu…với mục đích phát triển kinh tế, xây dựng hạ tầng cơ sở, giúp xoá đói giảm nghèo cho VN. Dự án anh Bình đưa ra với mục đích giám sát nhằm chống thất thoát, trên nguyên tắc, rất hữu lý, vì cả trong và ngòai nước hiện nay, ai ai cũng biết đến vấn nạn tham nhũng trầm trọng, đã đục khoét khổng lồ vào ngân quỹ quốc gia, đặc biệt các nguồn tiền từ viện trợ nước ngoài qua các vụ án động trời ở trong mọi công trình dự án. Các tin tức được đăng tải tràn ngập trên báo chí trong nước, mặc dù đã được nhà nước bưng bít, kiểm duyệt trước khi đăng tải. Thế nhưng làm sao để thực hiện việc giám sát? Thông thường, để được viện trợ, một dự án cần được lên kế hoạch rõ ràng, chi tiết và khả thi. Các cơ quan viện trợ hẵn đã nghiên cứu nắm được dự án một cách tổng quát và đã phải có kế hoạch giám sát trong giai đoạn thi công, nhưng rồi họ cũng không làm được gì khi nhà nước CSVN , bề ngoài làm ra vẻ chống tham nhũng kiên quyết, mặt trong lại bao che, có khi chủ động để chia chác, hoặc giả không đủ uy quyền để ngăn chặn đám đàn em bất trị theo kiểu”trên bảo dưới không nghe”.

Trong khi đó, với dự án giám sát chống thất thoát này, chúng ta không thể có được những tài liệu, dữ kiện trong tay để thực thi việc kiểm tra, cũng không thể đòi hỏi chính quyền các nước phải công khai thông báo những dự án viện trợ đó cho công chúng trước khi nó được triển khai. Chỉ trừ trường hợp hy hữu, khi có được người Việt nằm trong ủy ban xét duyệt viện trợ, chúng ta mới có chút hy vọng áp đặt được sự giám sát. Ngoài ra, các đề nghị công khai để công luận giám sát sẽ bị các nước cấp viện từ chối với nhiều lý do. Chắc chắn nhà nước CSVN cũng không chấp nhận chuyện bị giám sát bởi một hệ thống ngoài đảng, ngoài chính phủ.. Có bị áp chế phải chấp nhận thì với kinh nghiệm lừa lọc bao nhiêu năm, đám lãnh đạo dư sức vẽ bùa,làm trò ảo thuật để qua mặt dễ dàng. Xem như vụ án PMU18 là một bằng chứng, Bùi Tiến Dũng và đồng bọn đã làm ăn vi phạm trắng trợn đến nỗi nhà nước không che chở nổi phải đưa vào tù, vụ việc tham nhũng trắng trợn, rành rành trước mắt nhưng Ngân Hàng Thế Giới, tổ chức viện trợ đi điều tra trên giấy tờ lại không tìm thấy dấu hiệu sai sót nào?

Dù sao, cũng phải công nhận giải pháp của anh Nguyễn Vũ Bình cũng môt phần khả thi, với điều kiện quý vị quan tâm đến dân chủ VN tại hải ngoại đang có ảnh hưởng đáng kể đến tổ chức các quốc gia viện trợ cho VN lên tiếng đòi hỏi quyền giám sát đúng đắn này, vận động hành lang và phản ảnh lên những giới chức có thẩm quyền quốc tế để áp lực họ thẩm định lại và đề nghị các cơ quan, tổ chức cấp viện phải có biện pháp.

Đến đây, người viết xin có một đề nghị nhỏ bên ngoài dự án giám sát. Chúng ta thấy luồng đầu tư nước ngoài đổ vào VN trong năm nay là trên 20 tỷ và mỗi năm mỗi cao hơn. Lương vốn đầu tư to tát này gồm từ các công ty tư nhân ngoại bao gồm rất nhiều đại công ty thế giới như Intel, GM… điều hành như một công ty mẹ, thuê mướn và hầu như có ảnh hưởng lên các công ty vừa và nhỏ khác. Mục đích của giới đầu tư là khai thác các nguồn sản xuất có chi phí rẻ để kiếm càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Do đó , khi đi vào thị trường VN,họ biết cách cấu kết mua chuộc các giới cầm quyền VN từ trung ương đến địa phương để tha hồ bóc lột sức lao động rẻ mạt của người dân VN, lợi dụng luật lệ an toàn vệ sinh lỏng lẻo, bất cập của VN để xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường đất đai sông suối, nguy hiểm đến đời sống, sinh hoạt của dân chúng, ỷ thế tiền bạc sẵn trong tay và lợi dụng việc đất đai rẻ mạt tại VN những năm trước đây, mua bán chiếm đoạt bất động sản gây rối loạn thị trường nhà đất VN. Có lẽ chúng ta phải làm sao ngăn chặn những tệ hại trên, không những nó đang tác hại đến thế hệ chúng ta đang sống, mà còn gây ảnh hưởng nặng nề đến những thế hệ sau.

Chúng ta phải làm gì? Chắc chắn chúng ta không thể đòi giám sát nguồn đầu tư đó. Nhà nước VN thì đã bị mua chuộc, trở thành một công cụ cho đám tư bản. Vậy thì chúng ta sẽ làm những gì trong phạm vi có thể làm được. Với tình hình lạm phát phi mã hiện nay, nhân dân VN hầu như mọi giới, từ công nhân, nông dân đến người dân bình thường đều chịu ảnh hưởng nặng nề, do đó việc vận động mọi người cộng tác trong đề nghị này có thể khả thi: lập một ủy ban lưu trữ, thí dụ Uỷ Ban Thu Thập Dữ Kiện. Công việc chính là loan truyền đến khắp nơi, đặc biệt thành phần công nhân, mỗi cá nhân cố dùng mọi phương tiện sẵn có để thu thập tất cả mọi tài liệu, giấy tờ, công văn, thư từ, phim ảnh của các công ty xí nghiệp, kể cả cơ quan công quyền về những vấn đề liên quan tới sinh hoạt, đàn áp bóc lột, ảnh hưởng tới công việc, sức khoẻ, an toàn cho đời sống cá nhân, gia đình, tập thể mà mỗi người thấy đó là điều bất công , sai trái, vi phạm luật pháp hay việc thi hành trái với khế ước, gây nguy hại cho con người, tài sản và xã hội của dân tộc VN. Từ đó, cố gắng sao chép, in ấn thành nhiều bản, lưu trữ trên hồ sơ, trên những đĩa mềm, đĩa cứng, ổ USB …, gửi ra ngay bên ngoài nhờ lên tiếng công khai khi có điều kiện. Nếu không giải quyết được ngay được vấn đề thì đó vẫn là những dữ liệu bằng chứng quý giá cho chúng ta sau này, đặc biệt trong các vụ tố tụng. Nhiều năm sau, chúng ta vẫn có thể dùng chúng đễ luận tội, đòi hỏi, thương lượng, trả giá cho những hậu quả , mất mát,chuyện đòi bồi thường, những món nợ bất công…mà CSVN hiện tại đang ký kết vay mượn và tiêu xài hoang phí, những thiệt hại về nhân mạng, tài sản, môi trường bị tàn phá vì những đường lối, dự án kinh doanh bừa bãi, vô trách nhiệm. Chúng ta cần làm, mặt khác, để cho họ biết rằng chúng ta hiểu rõ pháp luật quốc tế, và họ không thể trốn chạy trách nhiệm cả hiện tại và trong tương lai, cho dù chế độ CS hiện nay có còn hay sụp đổ, cho dù họ còn hoạt động hay không trên đất VN.

Việc thu thập dữ kiện là những bằng chứng không thể chối cãi cho những hành vi đàn áp bóc lột, hành hạ ngang ngược, huỷ hoại môi sinh bất chấp hậu quả của họ. Họ sẽ phải trả giá đắt nếu như bây giờ không chịu ngưng lại. Những tài liệu, hình ảnh đưa ra được bên ngoài cần được hải ngoại tiếp tay làm áp lực ngay tại trung tâm đầu não của các đại công ty và chính quyền các nước. Những công ty này sẽ phải giải quyết nếu không muốn vì tai tiếng, hàng hoá bị tẩy chay, công ty có nguy cơ bị kiện cáo trước toà thậm chí dẫn đến sự sụp đổ.

Nếu được như vậy thì công việc nhỏ bé này có thể có tác dụng ngay lên đời sống nhân dân. Cái cảnh các viên chức cầm quyền và lực lượng công an ỷ quyền trấn áp nhân dân trong các cuôc đình công, biểu tình khiếu kiện có hy vọng giảm bớt. Khi mọi người cùng làm thỉ họ phải biết sợ. Công việc của uỷ ban cũng chỉ là phổ biến, hướng dẫn người dân cách thức thu thập, sao chép và lưu giữ sao cho có hệ thống và hiệu quả. Tóm lại, hãy cho giới thống trị và thế giới biết rõ ai thực sự là chủ nhân của đất nước này.

Cuối cùng, nhìn qua biến chuyển của các nước lận cận, Thái Lan vừa có một chính quyền dân cử, Miến Điện phải chấp nhận một cuộc bầu cử đa đảng vào năm 2010, mặc dù cánh chính phủ quân phiệt vẫn tìm cách sửa đổi hiến pháp để loại nhà đối lập hàng đầu Aung San Suu Kyi ra khỏi chính trường, người viết vẫn tin rằng con đường dân chủ tại đây đang thắng thế, do đó vẫn bảo lưu ý kiến của mình từ bài viết trước đây Việt Nam nhìn qua biến động Miến Điện rằng PT DCVN đang cần một khuôn mặt tiêu biểu ở ngay trong nước để làm đối trọng với nhà cầm quyền CS, đồng thời đủ uy tín để có sự hỗ trợ mạnh mẽ của dư luận quôc tế , tránh việc bị đàn áp thẳng tay hoặc tệ hơn, bị đám lãnh đạo dùng những thủ đoạn dàn cảnh hèn hạ, bẩn thỉu và tàn độc để thủ tiêu.

Khối 8406 đã là một điểm tựa vững chắc và có tiếng vang. Các nhà dân chủ trong nước có thể đặt các vị tu hành có thành tích đấu tranh dân chủ kiên cường và đang bị giam cầm, quản thúc vào vị trí cố vấn tối cao, nhờ đó, sẽ có sự hậu thuẫn của quần chúng các tôn giáo. Điều cần thiết lúc này là việc lựa chọn một nhân vật uy tín cho biểu tượng chính trị, một nhà chíng trị chuyên nghiệp. Các vị như Nguyễn Đan Quế, Phạm Hồng Sơn, Đỗ Nam Hải, cá nhân anh Nguyễn Vũ Bình và cả anh bạn trẻ Nguyễn Tiến Trung đều là những nhân vật sáng giá, theo ý người viết, có thể hợp tác làm nên khuôn mặt dân chủ điển hình ấy. Xin có lời thứ lỗi vì còn rất nhiều nhân vật khác mà người viết chưa được biết tới. Cám ơn anh Nguyễn Vũ Bình về bài viết. Cám ơn quý vị đã cố công theo dõi những đóng góp thô thiển nhưng chân thật này. Xin quý vị có quan tâm cùng đóng góp thêm ý kiến.

Australia 14/03/2008
Phương Duy

Người nô lệ da vàng qua tham vọng Trung Quốc

Nô lệ da vàng qua tham vọng của TQ

Người nô lệ da vàng ngủ quên
Ngủ quên trong căn nhà nhỏ
Đèn thắp thì mờ
Ngủ quên, quên đã bao năm
Ngủ quên không thấy quê hương
Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc dân ta
Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc tự do

Người nô lệ da vàng bước đi
Bước đi, đi về đầu non
Người nô lệ da vàng bước đi
Bước đi, đi về biển xanh
Đi khâu vá con sông Việt Nam hai mươi năm liền
Thịt xương phơi trên đôi miền
Đi cho thấy quê hương





Người nô lệ da vàng ngồi yên
Ngồi yên trong căn nhà nhỏ
Đèn thắp thì mờ
Ngồi yên quên nước quên non,
Ngồi yên xin áo xin cơm
Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc đôi chân
Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc hờn căm
…
Lời của bài hát "Đi tìm quê hương” một trong những “Ca khúc Da Vàng” của Trịnh Công Sơn (TCS) nói lên cái số phận nghiệt ngã của người nô lệ. Dĩ nhiên, ai cũng nhận thức được ý của người nhạc sĩ muốn truyền đạt là cái hình ảnh của người nô lệ Việt Nam (VN). Đã có quá nhiều người nói về những suy tư trăn trở,quan niêm sống, cuộc đời và sự nghiệp thi ca của TCS. Bài viết này chỉ xin mượn tạm 2 chữ nô lệ của ông để nêu lên một vài khía cạnh liên quan đến thân phận của người Việt Nam qua những thời đại. Quan đìểm nô lệ da vàng của TCS vào thời điểm giữa thập niên 1960 cho ta thấy ông rất xu thời theo phong trào ngụy hoà phản chiến lúc đó đang lớn mạnh trên thế giới. Nói về thân phận con người qua một màu da, họ Trịnh cố tình đưa cái nhìn đi thật xa về những ông chủ da trắng mắt xanh, mà cố tình quên cái hiểm hoạ gần, người láng giềng khổng lồ ngay sát nách, một ông chủ nô tự coi mình là trung tâm của vũ trụ, có trách nhiệm thế thiên hành đạo, muốn bá chủ thế giới, ép buộc các dân tộc khác phải lệ thuộc vào mình. Đặc biệt các quốc gia dân tộc sát kề chung quanh.

Lịch sử VN là một chuỗi dài liên tục chống ngoại xâm. Dân tộc VN đã bị ngoại bang thống trị nhiều lần trong những khoảng thời gian rất dài. Một ngàn năm nô lệ dưới thời Bắc thuộc. Một trăm năm bị Pháp đô hộ. Bọn ngoại xâm trực tiếp dùng vũ lực chiếm đoạt lãnh thổ đất đai, cướp quyền cai trị, đặt để luật pháp để vơ vét tài sản, áp đặt thuế má và bắt người dân VN phải phục vụ cho chúng như những giai cấp nô lệ thưỏ xa xưa, cái thưở mà hình ảnh kiếp nô lệ của con người , dưới mắt bọn chủ nô, chỉ là một con vật, phải vất vả hầu hạ phục vụ chúng cho đến chết, hoặc một loại hàng hoá để bọn chủ trao đổi mua bán với nhau kiếm lời.

Ngay cả trong những thời đại Đinh, Lê, Lý Trần hiển hách với đất nước Việt, theo sử sách ghi lại, là một quốc gia độc lập, dân tộc Việt có quyền tự chủ, cái ảnh hưởng trong cái thời kỳ nô lệ vẫn tồn tại rất mạnh mẽ một cách gián tiếp qua sự nô lệ trong tư tưởng. Sau thời Bắc Thuộc, văn hoá VN gần như hoàn toàn lệ thuôc vào nền văn hoá Trung Hoa.

Văn chương chữ nghĩa, phong tục tập quán, nghi lễ hình thức, nhất nhất đều theo như rập khuôn. Cái mặc cảm nhỏ bé, tự ti làm cho dân Việt lúc nào cũng thấy mình là thân phận nhược tiểu trước một thiên triều to lớn vĩ đại , một quốc gia hùng mạnh,1 tâm điểm của thê giới, một văn minh rực rỡ, một nơi chốn các chư hầu phải thần phục. Khổ thay, cái tâm trạng nô lệ tư tưởng ấy còm kéo dài mãi cho đến ngày nay.

Thực tế mà nói, trong suốt thời gian đô hộ, Bọn ngoại xâm cũng đã để lại cho người bị trị một nền văn hóa và tư tưởng có giá trị cao. Nền luân lý , tư tưởng và triết thuyết của Tam Giáo được truyền bá rộng rãi, đã ăn sâu vào văn hoá người Việt cho mãi đến bây giờ. Khi thực dân Pháp đến xâm chiếm, họ cũng để lại những giá trị cơ bản như nền triết học Tây Phương và Cơ Đốc Giáo, sáng chế chữ quốc ngữ , khai sáng tâm trí con người với nền khoa học kỹ thuật hiện đại tân tiến…

VN chịu ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng Khổng Mạnh. Xã hội đặt gia đình là đơn vị cơ bản trong nền tảng đạo lý lấy tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức làm gốc:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.

Cái nền tảng đao lý đó đã có từ ngàn xưa và đã ăn sâu vào xã hội VN đến tận gốc rễ, cho đến nay đã thành truyền thống thường được gọi là truyền thống Á Đông hay giá trị Đông Phương. Không ai có thể chối cãi những tinh hoa vẫn tồn tại như đạo làm người, sống noi gương các bậc hiền nhân quân tử,tránh xa phường xu nịnh tiểu nhân, biết kính trên nhường dưới, hiếu đễ mẹ cha, đùm bọc gia đình, trách nhiệm với quê hương và xã hội.

Nhưng mặt khác, cũng chính những tinh hoa này đang là những lực cản làm giảm bớt, ngăn chặn đà tiến hoá của xã hội VN trong chiều hướng phát triển chung của nhân loại, đặc biệt, nó gây nên những trở lực lớn lao cho tiến trình dân chủ hoá đất nước. Việc e ngại hai tiếng phản bội đảng, cơ chế , cấp trên, lý tưởng bởi sự suy nghĩ còn nặng óc nô lệ tư tưởng bảo thủ: làm người phải trung quân ái quốc. Vì thế rất nhiều cán bộ đảng viên CSVN đã thức thời vẫn không dám quay lưng lại dù biết rõ đảng (CS) chỉ còn là hiện thân một đảng Mafia tàn bạo, cơ chế hoàn toàn mục ruỗng, lý tưởng CS là hoang tưởng, đã sụp đổ tan tành, cán bộ đảng viên các cấp ganh đua tham nhũng thối nát. Họ chối bỏ hay không thể vượt qua chính mình vì khủng hoảng niềm tin, vì không muốn xáo trộn cái tôn ti trật tự sẵn có, vì sự nể trọng cấp trên, dù nhận thức được sai quấy của cấp trên.

Điển hình nhất hiện nay là cái nền giáo dục một chiều trong nước, không những chỉ trong ý thức chính trị mà trong tất cả mọi lãnh vực khác như văn chưong, khoa học, nghệ thuật không được phép phê bình chỉ trích, ra ngoài luồng, luôn luôn phải đi đúng theo đường hướng chỉ đạo ở trên. Hậu quả là xã hội phát sinh ra những lớp người thiếu sáng tạo , chỉ còn biết nhắm mắt bảo sao nghe vậy. Tàn hại hơn, xã hội VN , ngoài tầm nô lệ tư tưởng Nho giáo lỗi thời còn bị cưỡng bách nhồi nhét vào đầu chủ nghĩa Cộng Sản hoang tưởng , bạo tàn bọc trong lớp vỏ độc lập dân tộc, đầu óc bảo thủ và sự nô lệ trong tư tưởng của con người tăng trưởng theo cấp số nhân. Đó là một trong những lý do người ta giải thích vì sao, trong 4 quốc gia CS còn sót lại, có tới 3 nưóc Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn là những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tư tưởng Khổng Mạnh.

Trong những ngày này, tư tưởng và tinh thần nô lệ chưa được gat bỏ ra khỏi những đầu óc cố cựu bảo thủ của đám người nắm quyền lực tại VN đang làm tăng thêm mối lo ngại của người dân về sự quay về một thời kỳ nô lệ mới: thời Bắc thuộc lần 2 qua những chỉ dấu và hành động đầy tham vọng của người láng giềng phương Bắc, con rồng nay đã tỉnh giấc và đang trỗi dậy như một siêu cường trên bàn cờ quốc tế.

Chúng ta cần nhìn lại 15 năm trước, khi Liên Xô sụp đổ, không còn thế đối đầu Nga - Mỹ, thế giới còn lại duy nhất một siêu cường là Hoa Hỳ.Mười năm tiếp theo, với ưu thế đó, Hoa Kỳ đã có cơ hội tốt kiến tạo lại một thế giới mới bằng một hệ thống công bằng, hợp lý và dân chủ hơn. Tiếc thay, Hoa Kỳ đã không làm được điều này, và trong 5 năm qua, uy thế và sự bá chủ thế giới của nước Mỹ đang từ từ xuống dốc . Nhiều nơi trên thế giới, người ta đã bắt đầu tỏ thái độ không tin tưởng Mỹ. Ngay cả những đồng minh thân cận nhất, trong quan hệ giữa 2 nước cũng không còn cảm thấy thoải mái.

Hiện nay, Hoa Hỳ vẫn còn là siêu cường độc nhất, nhưng có lẽ trong 15 năm tới, nhiều nước đang có tham vọng thay thế, hoặc ít nhất có thể sánh vai với Hoa Kỳ trong vị trí siêu cường trên thế giới. Mặc dù Hoa Kỳ vẫn là quốc gia có kinh phí quốc phòng lớn nhất, năng lực quân sự mạnh nhất chưa có nước nào có thể so sánh, nhưng cái quan niệm mới về vị thế siêu cường đã đổi thay, sức mạnh quân sự vô địch chưa đủ để làm một siêu cường quốc. Quyền lực về các vấn đề quốc tế còn phát xuất từ sức mạnh kinh tế, ảnh hưởng chính trị, sức thu hút về văn hoá và khả năng xử dụng được sức ép ngoại giao.

Nga và một số quốc gia trong khối Liên Âu như Pháp, Đức cũng có ý định vươn lên (hoặc lấy lại trong trường hợp Nga) vị trí này nhưng tất cả e không đủ sức. Dường như chỉ riêng Trung Quốc đang có đủ điều kiện thành công trong thơì gian tới: Trung Quốc hiện có 1 tỷ lệ phát triển kinh tế tăng tốc gấp đôi Hoa Kỳ, một dân số đông gấp 5 lần, một thị trường buôn bán khổng lồ cho thế giới, đến năm 2020 nó sẽ là nền kinh tế đứng nhất nhì thế giới. Kinh tế càng mạnh, ảnh hưởng chính trị càng lớn, nền văn hoá Hán Trung hiện đã trải rộng khắp toàn cầu, tiềm năng quân sự lớn lao dựa vào kinh phí quốc phòng ngày một tăng gấp bội. Đặc biệt, Trung Quốc nắm giữ được quyền hành rất lớn về áp lực đối ngoại nhờ vào cái ghế thường trực tại Hội Đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc với ưu thế có quyền phủ quyết Trong khi người Mỹ, với chính sách đề cao và quảng bá dân chủ, luôn luôn có mặt và can thiệp vào chính sách của các nước khác, nhất là về vấn đề nhân quyền và tôn giáo ,làm phật ý nhiều chính quyền sở tại, thì chiêu bài giấu mặt của Trung Quốc duới chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của các nươc khác cũng là một ưu thế để tiến gần hơn đến vị trí siêu cường của Hoa Kỳ.

VN hiện tại cũng như các quốc gia quanh vùng đều muốn có quan hệ tốt với cả Mỹ và Trung Quốc. Nhất là đám lãnh đạo Hà Nội hiện nay đang dùng chính sách đi dây giữa 2 nước để vừa củng cố quyền lực vừa hưởng lợi ích phát triển kinh tế, tài chánh và thương mại. Chuyện này không phải dễ dàng, vì cũng như nước Mỹ hàng trăm năm trước đã dùng uy lực lớn mạnh của mình để giảm thiểu ảnh hưởng của đế quốc Anh trên toàn khu vực Bắc Mỹ và cuối cùng lên ngôi bá chủ toàn vùng, Trung Quốc cũng đang sử dụng sức mạnh kinh tế và thị trường khổng lồ của họ để làm giảm bớt ảnh hưởng của Mỹ lên khu vưc Thái Bình Dương và Đông Nam Á.

Để làm hài lòng cả 2 anh lớn đang kèn cựa cạnh tranh nhau là một việc đòi hỏi nhiều khôn khéo và đầy nỗ lực. Hà nội dường như vẫn ngả theo đàn anh phương Bắc, nơi mà điểm tựa cho quyền lực của đảng và chính quyền còn thật vững chắc vì có cùng hệ tư tưởng và một hệ thống độc đảng cầm quyền. Hơn nữa, họ tỏ ra tin tưởng có đủ kinh nghiệm trong sự cân bằng mối liên hệ tay ba với Nga và Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh để vẫn giao thiệp trao đổi vớii Mỹ, một cựu thù họ từng dễ dàng tráo trở qua mặt, mà không làm mất lòng đàn anh khổng lồ phương Bắc.

Việc thân thiện và cộng tác với nhà cầm quyền Trung Nam Hải theo nguyên tắc tương đối bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau như họ từng tuyên bố, chỉ có trên ngôn ngữ và văn bản ngoại giao. Với tư tưởng Hán tộc độc tôn trong đầu, lãnh đạo Trung Quốc ở bất cứ thời đại nào cũng không cho phép ai đứng sánh ngang với họ. Người Mỹ không phải là không có đầu óc tự tôn, nhưng ít ra tư tưởng dân chủ phóng khoáng , nền chính trị đa đảng tam quyền phân lập và chủ trương chống lại việc bành trướng đất đai giúp cho phần còn lại của thế giới cảm thấy an tâm hơn trong mối quan hệ.

Trung Quốc, trái lại, hệ thống độc tài độc đảng vẫn còn tồn tại chưa biết đến bao giờ, và cho dù chế độ CS này có sụp đổ, nó cũng sẽ được thay thế bởi một chủ nghĩa quốc gia cực đoan với tham vọng bành trướng và bá chủ. Nhật Bản đã bày tỏ thái độ thật rõ ràng rằng: dù sự nổi lên của Trung Quốc trong khu vực có mang một bộ mặt hoà bình, thì cái bảo đảm tốt nhất nên chọn vẫn cứ phải là một đồng Minh thân cận của Mỹ. Tây Tạng, Nội Mông Cổ là những ví dụ điển hình cho hiểm hoạ bành trướng này.

VN đang ở trong trường hợp mà mộng siêu cường và chính sách bành trướng của Trung Quốc mang nhiều bộ mặt: vừa hoà bình vừa hung hãn, vừa che giấu vừa lộ liễu, vừa vuốt ve vừa hăm doạ.
Bộ mặt hoà bình thể hiện qua các cuôc qua lại thăm viếng của lãnh đạo đảng,nhà nước của 2 quốc gia, gần đây nhất là cuộc viếng thăm Bắc Kinh cũa Tỏng bí thư ĐCSVN Nông Đức Mạnh với khẳng định cùng vẫn chung ngọn cờ XHCN và những khẩu hiệu đao to búa lớn “16 chữ vàng và chính sách phát huy 4 tốt”. Người ta nghi ngờ rằng những cuộc viếng thăm ấy chẳng qua bên trong chỉ là sự ngầm chỉ đạo của Trung Quốc đối với lãnh đạo Việt Nam, sự nhận lãnh chỉ thị và trấn an của một chư hầu đối với thiên triều.

Bộ mặt hung hãn qua việc dùng vũ lực chiếm cứ, xây dựng phi trường, cứ điểm quân sự trên các quần đảo ngoài khơi khu vực Hoàng Sa, Trường Sa và ngang nhiên khai thác dầu mỏ, đồng thời bắt ép VN ký những hiệp ước nhượng bộ về đường biên giới phía Bắc và chủ quyền vịnh Bắc Bộ, thô bạo nhất là việc đòi hỏi quyền tuần tiễu kiểm soát chung trong khu vực lãnh hải của VN.

Bộ mặt mờ ám che giấu hành động phá hoại kinh tế VN qua việc để tự do cho bọn buôn lậu nhập ồ ạt hàng hoá Trung Quốc vào VN , nguy hiểm nhất là số lưọng khổng lồ giấy bạc giả làm lũng đoạn nền kinh tế VN.

Bộ mặt lộ liễu của Trung Quốc phản ánh qua hành động giả vờ ký kết những văn kiện trao đổi thương mại giữa 2 nước mà họ chắc chắn 100% hàng hoá VN không thể cạnh tranh với hàng Trung Quốc ngay ở trong nội bộ VN, chưa nói đến việc xuất cảng. Vừa qua, Bắc Kinh còn hưá trong tương lai sẽ bỏ vốn đầu tư vào VN nhiều hơn nữa qua việc sắp tới đây có thể thay thế Đài Lan, Hàn Quốc làm chủ các doanh nghiệp tại VN. Kết quả là trong tương lai không xa, kinh tế VN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc, một viễn ảnh đáng sợ?

Để vuốt ve, Trung Quốc đang dùng sức mạnh thặng dư kinh tế để viện trợ mua chuộc, tài trợ cho nhóm nhỏ lãnh đạo VN như một hình thức mua chuộc để cài đặt nhóm tay chân thân cận họ, hay có khi chính người Trung Quốc vào các vị trí đầu não quan trọng, mặt khác tích cực hỗ trợ VN trong việc gia nhập vào WTO trong năm nay, một việc mà đáng lý ra VN đã có cơ hội gia nhập trước Trung Quốc tại Tân Tây Lan trong những năm trước đây, cũng chính Trung Quốc đã âm mưu ngăn chặn bằng việc xúi giục Cựu Tổng bí thư lúc đó là Đỗ Mười ra lệnh ngưng ký kết.

Bộ mặt hăm doạ của Trung Quốc tỏ lộ rõ ràng trong sự tăng thêm chi phí quốc phòng lớn lao, tối tân hoá quân đội, đặc biệt các vũ khí nguyên tử, phô trương các cuộc thao diễn, đến các chuyện nhỏ nhặt , điển hình như sự bắn giết và bắt giữ các ngư phủ VN ở biển Đông

Trong thời đại đầu thế kỷ hai mươi mốt, với phương tiện truyền thông toàn cầu quá nhanh chóng, với sự quan sát của toàn thế giới, Trung Quốc không thể trắng trợn trực tiếp xâm lăng VN, biến dân tộc VN thành một dân tộc nô lệ, sát nhập lãnh thổ VN thành một địa hạt của Trung Quốc như Mãn Châu, Mông Cổ, Tây Tạng. Nhưng các chính sách chiếm độc quyền trên biển, lũng đoạn và kiểm soát chặt chẽ sự phát triển kinh tế của VN, ảnh hưởng và chi phối nặng nề về chính trị và lãnh đạo đang làm cho VN trôi dần vào quỹ đạo nô lệ.

Thời gian 10 đến 15 năm tới, tưởng là dài so với đời người, lại thật ngắn đối với một quốc gia có chiều dài lịch sử cả 4 ngàn năm. Nếu những người đang cầm quyền Hà Nội không chịu thay đổi não trạng khư khư bảo vệ quyền lợi của cá nhân và quyền lợi của đảng bất chấp những nguy hại cho đất nước, nếu những người có đầu óc tư duy đổi mới cả trong ngoài nước không tìm ra phương cách để thay thế những não trạng cổ hủ nhất định đi ngược lại lợi ích của dân tộc, thì cái nguy cơ nô lệ Bắc thuộc lần 2 dường như đang cận kề trước mắt

Người nô lệ da vàng bước đi
bước đi, đi về ruộng nương
Người nô lệ da vàng bước đi
bước đi, đi về đồi hoang
Đi nói với anh em đòi cho quê hương thanh bình
Dựng xây tương lai Tiên Rồng
Đi cho thấy quê hương…

Gần 40 năm trước, Trịnh Công Sơn đã chỉ nhìn thấy những gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc lên chân người nô lệ da vàng VN, nhưng ông đã nhắm mắt lại trước những chủ nô cũng thuộc giống da vàng mũi tẹt không chỉ tróí buộc đôi chân mà còn dã tâm trói buộc bao tử, xiềng xích tư tưởng, gông cùm tương lai của người nô lệ mới VN.

Ước mong với những đóm lửa hy vọng đang bùng lên, người dân nô lệ da vàng không còn ngủ quên.

Người nô lệ da vàng: hãy cùng nhau vùng dậy đập tan gông cùm xiềng xích trói buộc tự do.

Người nô lệ da vàng: hãy cùng bước đi, đòi lại nhà cửa ruộng nương, đòi lại núi đồi sông biển, đòi lại quê hương thanh bình trong no ấm, tự do, hạnh phúc,một đất nước thực sự độc lập, không lệ thuộc vào ai.

Người nô lệ da vàng: hãy đi đòi lại quyền xây dựng tương lai cho bản thân , cho gia đình , cho Tổ Quốc.

Hãy cùng bước đi cho thấy quê hương.

Phương Duy
Australia, 03/09/2006


Cầu nguyện - phương thức đấu tranh hoà bình

Vài suy nghĩ về việc cầu nguyện trước toà Khâm Sứ

Giáo hội Công Giáo Việt Nam, giáo phận Hà Nội đang bước một bước mới trong việc đấu tranh cho công lý, lẽ phải và hoà bình. Hưởng ứng lời kêu gọi của đức tổng Giám Mục Hà Nội - Ngô Quang Kiệt, giáo dân khắp nơi trên giáo phận đã liên tục kéo về tập trung trước toà Khâm Sứ bên cạnh toà Tổng Giám Mục ở phố Nhà Chung để cầu nguyện lên Thiên Chúa và Mẹ Maria đòi chính quyền Hà Nội phải trả lại phần tài sản này cho giáo hội đã bị chiếm đoạt bất hợp pháp hơn 50 năm qua, đã có những đơn từ yêu cầu chính quyền giải quyết hàng chục năm mà không hề được trả lời hay xem xét. Rõ ràng, công lý bị chà đạp.

Khi không có công lý, không thể có hoà bình. Một xã hội ổn định dưới gông cùm xiềng xích, bạo lực súng đạn thì xã hội đó đầy rẫy bất công, một môi trường thuận tiện cho một nhóm thiểu số nắm quyền hành trong tay tác oai tác quái. Họ tự tạo ra pháp luật, nhưng lại không chịu chi phối bởi pháp luật ấy. Họ tự giải thích pháp luật theo ý họ và dung túng cho bè đảng, tay chân có cơ hội đàn áp bóc lột người dân đen thấp cổ bé miệng.

Các phong trào công nhân, sinh viên biểu tình, dân oan khiếu kiện khắp nơi trên đất nước là những minh chứng hiển nhiên. Với bạo lực trong tay và sự lọc lừa trí trá có từ trong bản chất của chế độ, cộng thêm kinh nghiệm len lỏi để phá hoại và vô hiệu hoá, đảng và nhá nước CSVN lâu nay đã hoá giải được hầu hết những “diễn biến hoà bình” kể trên được coi là mối nguy cho chế độ.
Lần này, diễn biến đã theo một chiều hướng khác, khi con giun xéo mãi cũng quằn, một trong những lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo VN bắt đầu nhập cuộc. Người chủ chăn của giáo phận Hà Nội kêu gọi giáo dân cầu nguyện. Không hoan hô đả đảo, không xuống đường tuần hành, không biểu ngữ băng rôn. Tất cả chỉ là những lời cấu nguyện rất an bình, bằng thắp sáng niềm tin, bằng hương hoa chân tình, bằng hiệp đoàn canh thức, bằng tiếng hát câu kinh, dâng vế Thiên Chúa đấng Tối Cao và mẹ Maria dịu hiền. Một phuơng thức đòi hỏi nhẹ nhàng nhưng thành khẩn và đầy kiên quyết, đòi hỏi nhà nước CSVN phải thi hành đúng theo các điều khoản của văn bản pháp luật do chính họ viết ra. Vế mặt nổi là trả lại khu đất toà Khâm Sứ cũ trực thuộc toà Tổng Giám Mục Hà Nội - tài sản mà tổng giáo phận Hà Nội có đầy đủ bằng chứng về chủ quyền. Sâu xa hơn, như lời một linh mục dòng Chúa Cứu Thế tại Sài Gòn đã lên tiếng, biến cố mang một ẩn ý to lớn hơn: đấu tranh cho một phong trào đòi hỏi công lý và hoà bình.

Ngay từ những ngày đầu của các buổi tập trung cầu nguyện, đảng và nhà nước CSVN biết rất rõ sự nghiêm trọng của vấn đề. Do đó, thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã nhanh chóng có mặt tại chỗ để hạ hoả và đưa ra những lời hứa giải quyết. Nhưng, như đã thành bản chất, lời hứa của CS luôn luôn chỉ là lời hứa cuội, là kế tạm hoãn binh trong khi họ đang loay hoay tìm phương cách tiêu diệt. Ông nói gà bà nói vịt. Uỷ ban tôn giáo nhà nước và uỷ ban hột đồng thành phố Hà Nội lại có những công văn là lời lẽ buộc tội cứng rắn. Tưởng có bạo lực trong tay, họ sẽ giải quyết vấn dề gọn gang nhanh chóng. Nhưng hơn một tháng trôi qua mà phong trào cầu nguyện ngày càng lớn mạnh, các diễn biến càng căng thẳng hơn chứng tỏ sự kiên quyết của giáo hội và sự lúng túng của nhà cầm quyền nhưng vẫn không chịu từ bỏ ý đồ dẹp tan phong trào.

Cũng đã có những giải pháp dùng vài vị lãnh đạo như các vị Giám Mục Thái Bình Nguyễn Văn Sang, hoặc vị chủ tịch Hột Đồng Giám Mục VN Nguyễn Văn Hoà làm con thoi hoà giải nhưng không thành công vì sự không thực tâm giải quyết của đảng và nhà nước CSVN. Lại những màn độc kế hèn hạ thường hay được sử dụng trước đây, như vội vã cho treo lên bảng hiệu Nhà Văn Hoá Quận Hoàn Kiếm trước cửa, che giấu hành động kinh doanh thu lợi lộc cá nhân, rồi đóng cổng lại không cho giáo dân vào tụ tập cầu nguyện, để rồi sau đó vu cáo họ phá hoại tài sản nhà nước XHCN, các vị giám mục, linh mục của họ là những kẻ xách động quần chúng làm mất an ninh trật tự, gây xáo trộn đời sống nhân dân, cản trở lưu thông, vi phạm luật pháp nhà nước… Hèn hạ nhất là trò ném đá giấu tay, đưa ra những công lệnh hăm doạ mà toàn bộ chính trị đảng và nhà nước không công khai ra mặt, chỉ để cho bà Ngô thị Minh Hằng , một phó chủ tich hội đồng thành phố Hà Nội ký tên.


Chắc chắn vụ việc sẽ còn nhiều biến chuyển. Với uy quyền độc tài toàn trị trong tay, đảng và nhà nước CSVN không dễ gì chịu nhả. Họ dư biết sự buông tay sẽ là một tiền lệ cho việc đòi hỏi công lý đang bung nổ khắp nơi, hậu quả của những năm tháng đảng và nhà nước CSVN ỷ quyền cướp đất cướp của. Họ đang cố tìm ra những mưu mô thâm độc để triệt hạ diễn biến thật nhanh, không ai kịp trở tay. Có thể là tìm cách điều tra để vu cáo và bắt đi một số linh mục, tu sĩ, giáo dân được cho là những người chủ đạo phong trào. Triệt hạ được những vị này, họ tin rằng phong trào sẽ tiêu tan.

Một âm mưu khác đang ló dạng là việc sử dụng truyền thông báo chí với những ngòi bút công cụ, dùng những chứng cớ nguỵ tạo, những lý luận bẻ cong để bôi đen hình ảnh và nhân phẩm các vị lãnh đạo tôn giáo hầu làm mất uy tín của các vị này. Đồng thời, sử dụng một số văn nô giả danh một tôn giáo khác, như Phật Giáo chẳng hạn, để lèo lái phong trào Giáo Hội Công Giáo Hà Nội đòi nhà nước trả lại đất đai tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp thành một sự xung đột, tranh chấp đất đai tài sản giữa hai tôn giáo.

Nhưng dù thành công hay thất bại, dù đảng và nhà nước VN có đối phó bằng những âm mưu thâm độc tráo trở đến thế nào chăng nữa, Giáo Hội Công Giáo VN, như lời Chúa Giêsu đã phán dạy: “Ta là ánh sáng, sự thật,là đường đi và là sự sống. Ai bước theo ta sẽ được sống đời đời.”, vẫn cứ theo lời Ngài dạy, bước đi trong ánh sáng, nói lên sự thật và đấu tranh ôn hoà bằng lời cầu nguyện để cho tài sản giáo hội được hoàn trả để sử dụng cho mục đích của tôn giáo và công ích của người dân đồng thời cho công lý và hoà bình được thể hiện.

Cầu nguyện trong kinh hoà bình

Công lý và hoà bình. Đó là thông điệp trong lời cầu nguyện với Thiên Chúa mà giáo dân muốn nhắn gửi đến giới cầm quyền Hà Nội. Thông điệp được xác quyết hằng ngày qua bài thánh ca “Kinh Hoà Bình” một trong những bài thánh ca được hát lên nhiều nhất, hầu như trong mỗi buổi cầu nguyện tại sân toà Khâm Sứ .

“ Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa, trong mọi người.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa,
Để con:
Đem yêu thương vào nơi oán thù,
Đem thứ tha vào nơi lăng nhục,
Đem an hoà vào nơi tranh chấp,
Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Để con:
Đem tin kính vào nơi nghi nan,
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng

Để con:
Rọi ánh sáng vào nơi tối tăm,
Đem niềm vui đến chốn u sầu
Lạy Chúa, xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn đươc người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.,
Vì chính khi thứ tha là khi đươc tha thứ,
Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời.
Ôi Thần Linh thánh ái, xin mở rộng lòng con,
Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí
ƠN AN BÌNH.

(Kinh Hoà Bình của Saint Francis thành Assisi. Quý bạn trẻ có thể đọc lời tiếng Anh: Make me a channel of your peace. Để tìm: type: Peace prayer trong ô Google and search)

Cầu nguyện trong niềm tin sắt đá


Nhà cầm quyền CSVN coi việc cầu nguyện của tín đồ Công Giáo Hà Nội tại toà khâm Sứ là hành động vi phạm pháp luật. Họ quy trách nhiệm cho TGM Ngô Quang Kiệt và một số linh mục đã khuyến khích xúi giục giáo dân tổ chức cầu nguyện và đòi hỏi các vị này khuyến cáo tín đồ chấm dứt gây hấn bằng cầu nguyện. Họ không biết rằng, trong sinh hoạt tôn giáo, cầu nguyện là hơi thở, là đời sống của tín đồ Kitô giáo nói chung. Do đó, không ai có thể ra lệnh cho giáo dân chấm dứt cầu nguyện. Cầu nguyện là mối liên lạc, là lời tâm sự giữa con người với Thiên Chúa, là sự thể hiện niềm tin của con người vào Thiên Chúa. Không có niềm tin ấy, người ta không thể cầu nguyện. Không ai tâm sự với người mình không tin cậy. Để trở thành một tín đồ Thiên Chúa Giáo , điều kiện quan yếu nhất: người ta phải thể hiện đức tin vào một (và chỉ có một mà thôi) Đấng Tạo Hoá Toàn Năng hằng hữu vô và hữu hình. Một câu nói khác: Ubi caritas, ubi Deus (đâu có tình nhân ái, ở đó có Chúa hiện diện). Người tín đồ Công giáo, già trẻ lớn bé, sang trọng hay thấp hèn, trí thức hay thất học đều có chung một niềm tin và luôn luôn tuyên xưng đức tin trong thánh lễ, trong kinh nguyện hàng ngày. Có nghĩa là người tín đồ Công Giáo tin rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, hiện diện ngay cả trong từng mỗi con người ho. Điều này nói lên rằng có những luận điệu châm biếm người Công Giáo mù quáng tin rằng Chúa, Mẹ đã chạy vào Nam (năm 1954), bây giờ lại trở ra Bắc (trong sân Toà Khâm Sứ) chỉ là những luận điệu tuyên truyền rẻ tiền vì không hiểu biết gì về Thiên Chúa Giáo của người CS với mục đích mạ lỵ người Công Giáo VN mà thôi.

Và, niềm tin ấy mãnh liệt đến mức làm cho con người quên nỗi sợ hãi, kể cả nỗi chết Nhà cầm quyền CSVN những tưởng sau hơn 50 năm bị trù dập cấm đoán, giáo hội Công Giáo miền Bắc VN đã hầu như bị huỷ diệt hay ít nhất cũng tan tác không ngóc đầu lên được, ai ngờ chỉ vì sức ép của thế giới trong ít năm gần đây, khi họ cần gia nhập vào cộng đồng quốc tế phải theo luật chơi chung mà giả vờ lỏng tay bóp cổ các tôn giáo một chút. Nhưng các tôn giáo đã thừa cơ lộng giả thành chân, mầm mống và niềm tin tôn giáo vẫn y nguyên đó đã trỗi giậy và lớn mạnh hơn bao giờ hết. Giờ đậy, giáo hội miền Bắc, trước sự kinh ngạc của giới cầm quyền, không những phát triển mạnh mẽ mà dường như, càng bị áp chế nhiều, sức bậtt càng lớn, giở đây còn dũng cảm hơn cả Giáo Hội miền Nam? Sự dũng cảm đó từ đâu có được nếu không từ niềm tin sắt đá: đức tin,tâm điểm của người Công Giáo.

Cầu nguyện trong sự hiệp thông


Giáo hội Công Giáo VN, cả trong quá khứ lẫn hiện tại đều chịu nhiều gian khổ, bách hại và sỉ nhục. Đảng và nhà nước CSVN (cùng một số nhỏ người không CS) thường coi mối liên hệ của Công Giáo VN với Vatican và việc trước đây, thưc dân Pháp đã lấy sự bảo vệ cho các cố đạo Tây Dương và tín đồi Công Giáo VN làm cớ xâm lược VN để nguyền rủa Giáo Hội CGVN là bọn tay sai mất gốc.

Họ lập luận rằng đạo Thiên Chúa do người Pháp truyền bá vào, chỉ nhằm phục vụ cho ngoại bang chống lại đất nước. Đây là một thành kiến hết sức ấu trĩ, sai lầm. Mối quan hệ giữa Vatican và các giáo hội địa phương toàn cầu tuy hết sức chặt chẽ về các vấn đề tôn giáo, nghi lễ,mục vụ và sắc phong. Nhưng các phương diện khác như việc điều hành giáo phận, giáo hội địa phương hoàn toàn độc lập, giống như tổ chức một quốc gia liên bang với sự tự trị. Sự thực toà thánh Vatican không phải là một quốc gia mà chỉ là một cơ quan đầu não cũa giáo hội La Mã, chẳng qua có uy lực vì có số lượng tín đồ bao trùm thế giới.

Chúa Giêsu nói nước Người không phải ở thế gian này. Nhưng Người cũng nói (với Phêrô): “Con là đá, ta sẽ xây giáo hội của ta trên đá này, và quỷ hoả ngục không thể phá nổi”. Các giáo hội độc lập với nhau và với toà thánh Vatican. Sự tuân phục của các giáo hội địa phương hoàn toàn trong lãnh vực tín điều tôn giáo. Sự can thiêp nếu có vào nội bộ giáo hội địa phương với các chính quyền nội tại thường có tính cách ngoại giao và với mục đích hoà giải làm dịu bớt tình hình mà không có tính cách chỉ thị. Tuy vậy, các giáo hội vẫn luôn luôn hiệp thông và hợp nhất với nhau trong lời cầu nguyện. Chúng ta có thể thấy rõ sự hiệp thông ấy qua diễn biến cầu nguyện tại Tòa Khâm Sứ hiện nay, Giáo Hội Công Giáo VN tại các giáo phận khác trong và ngoài nước đều nhất thống hướng về giáo phận Hà Nội chung lời cầu nguyện, giáo hội khắp nơi trên toàn cầu cũng đang trên đường hiệp thông với giáo phận Hà Nội. Cá nhân tín đồ Công Giáo có thể có những lúc chỉ trích nhau (hay có ý tưởng phê bình một vài vị chủ chiên) về đường lối, chủ trương,hành động của nhau, nhưng trong cầu nguyện thì luôn luôn hiệp nhất. Bởi bản chất của cầu nguyện bao gồm tinh thần hiệp nhất: giữa con người với Thiên Chúa, giữa người còn ở trần gian (giáo hội chiến đấu) với người ở trên trời (các thánh: giáo hội khải hoàn), và người đang chịu thanh tẩy (giáo hội trầm luân).

Cầu nguyện trong tinh thần vị tha.


Theo lịch sử, đạo Công Giáo không theo chân người Pháp để vào Việt Nam vào thế kỷ 18 như nhiều người lầm tưởng. Sự thực, đạo Công Giáo đã có mặt tại VN vào giữa thế kỷ 16 (1551?) đời hậu Lê từ các giáo sĩ dòng Tên với việc thành lập các địa phận Đàng Trong (miền Nam), Đàng Ngoài (miền Bắc) trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh với ít nhiều khó khăn cấm đoán và sự khởi đầu rất đơn giản của chữ quốc ngữ chúng ta dùng ngày nay, qua cuốn từ điển Việt- Bồ- La của các giáo sĩ dòng Tên tự sáng chế phiên âm theo mẫu tự La tinh để việc học tiếng Việt dễ dàng hơn , có ích hơn trong việc truyền giáo, giáo sĩ Đác Lộ là người sau này đã sửa chữa hoàn thiện thêm.

Như vậy, đạo Công Giáo đã có mặt tại VN trên 200 năm trước khi người Pháp đặt chân đến, do đó giáo hội Công Giáo VN không phải do Pháp thành lập và sử dụng như là tay sai của họ để xâm lược, cai trị VN. Một minh chứng cụ thể khác: phần đất miền Nam dù chính thức là thuôc địa của Pháp, nhưng sự phát triển của Công Giáo rất hạn chế, chứ không mạnh mẽ và đông đảo như miền Bắc chỉ là đất bảo hộ (Giáo hội Công Giáo miền Nam đã tăng trưởng đột biến vào năm 1954 khi có đến 70% số người di cư từ miền Bắc vào là tín đồ Công Giáo). Thực tế này nói lên rằng giáo hội CGVN và chế độ thực dân không có sự liên quan. Dù vậy, đảng và nhà nước CSVN vẫn cố dùng phần lịch sử được viết sai lạc theo ý đồ của họ để nhục mạ giáo hội, đồng thời , như một kẻ vừa ăn cướp vừa la làng, chạy tội chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản riêng của giáo hội. Noi gương vị thầy khả kính là đức Giêsu chịu nhục hình , giáo hội Công Giáo VN sẵn sàng thứ tha cho những vu cáo, thiệt thòi đắng cay, nhục nhã mà nhà cầm quyền đã gây ra, nhưng lỗi lầm phải được thay đổi, sự thật phải được hoàn trả, công lý phải được phục hồi.

Cầu nguyện trong thái độ hiên ngang


Dù trải qua sự khắc nghiệt của thời tiết mưa gió giá lạnh và những hành xử tệ bạc có tính hăm doạ của đám công an bảo vệ, cùng những toan tính cố tình vu vạ, quậy phá hầu có cớ viện dẫn pháp luật để lên án buộc tội của nhà cầm quyền, người giáo dân vẫn kiên trì canh thức cầu nguyện lên Chúa và Mẹ với lòng hăng say. Đã không sợ hãi nao núng, môi miệng họ vẫn tươi cười, lời kinh cứ vang vang, bài ca cứ thánh thót, ngàn người như một, với thái độ bình thản thật hiên ngang, bất chấp bạo lực đàn áp có thể xảy đến ,dù máu có thể chảy, tính mạng có thể bị nguy hại. Không những thế, lời đe doạ càng cứng rắn, lượng người đổ xô đến tham dự càng đông hơn. Sao lạ thế? Xin thưa , đó là cái dũng cảm của đức tin. Chết thì ai cũng sợ. Chết cho người mình yêu mến thì nỗi sợ tan biến. Giáo dân tin yêu Thiên Chúa, nếu phải chết cho Chúa,họ coi đó là diễm phúc ,một khởi đầu cho cuộc sống vĩnh cửu trong nước Chúa. Được thánh hoà, được vào nước Chúa là ý nguyện thiết tha nhất của mọi người con Chúa.

Hiệp nhất trong cầu nguyện cũng để thể hiện tình đoàn kết tạo sức mạnh vô hình. Đoàn kết xua tan nỗi sợ, giúp moị người, mỗi người có cảm giác an bình trước mối nguy hiểm. Điều quan trọng hơn cả là người tín đồ Công Giáo tin tưởng rằng: nơi nào có sự cầu nguyện, nơi đó Thiên Chúa hiện diện để an ủi, che chở cho họ: có Chúa bên con, con lo gì, con sợ chi? “ Khi hai hay ba người trong chúng con hợp lại cầu nguyện thì Thầy ở giữa các con”. Lời của Chúa.

Giáo hội Công Giáo VN còn được thừa hưởng dòng máu bất khuất của các anh hùng tử đạo VN. Lịch sử gần 500 năm của Công Giáo VN qua nhiều thời đại thăng trầm với những giai đoạn bị cấm đoán bách hại khốc liệt. Đẫm máu nhất dưới thời vua Thiệu Trị và Tự Đức. Hàng trăm ngàn người đã bị bắt bớ, giam cầm, giết hại, trong số có 117 vị đã được phong thánh. Máu thánh tử đạo đã thấm nhuần và hun đúc giáo hội VN thành một khối đồng nhất, vững chắc và dũng cảm Noi gương các đấng tiền nhân, người Công Giáo VN không sợ hãi bạo quyền, dù phải hy sinh vẫn hiên ngang đứng lên, cùng nắm tay nhau và với một phương thức ôn hoà nhưng kiên quyết là cầu nguyện đòi hỏi, trả lại không chỉ đất đai tài sản mà cả những giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, sự độc lập trong điều hành của giáo hội, tức là đòi công lý và hoà bình phải được thực thi. Dù độc tài chuyên chế, dù âm mưu độc hại, dù bạo lực trong tay, cho đến giờ phút này, nhà cầm quyền vẫn chưa dám áp chế người giáo dân một cách quyết liệt như đã từng làm với các phong trào công nhân đình công, dân oan biểu tình khiếu kiện, sinh viên biểu tình trước đây. Điều này nói lên rằng: với niềm tin mãnh liệt, sự đoàn kết nhất trí, thái độ hiên ngang, tinh thần bất khuất, lời cầu nguyện ôn hoà giản dị lại có sức mạnh vô biên mà các thế lực tàn bạo nhất cũng phải chùn tay.

Canh thức đã qua, nguyện cầu còn đó
Trên đây là một vài suy nghĩ đơn giản của một giáo dân về một sự kiện của Giáo Hội Công Giáo VN gắn liền với vận mạng của cộng đồng giáo dân và theo thiển ý, có thể là một khúc quanh cho vận mạng của dân tộc VN. Vì là một giáo dân, người viết chỉ đứng trên quan điểm và lý lẽ về tôn giáo của một giáo dân, với kiến thức hạn hẹp chắc chắn là thô thiển và nhiều sai phạm. Nhận định về biến cố cầu nguyện đang xảy ra tại Việt Nam này hoàn toàn từ tâm thức và chỉ bao hàm trong phương thức cầu nguyện của người giáo dân, không có ý mạo muội lạm bàn đến cách ứng xử đối phó của các vị lãnh đạo giáo hội VN. Nhưng nếu có điều sơ xuất mạo phạm, vô tình hay hữu ý, xin quý ngài với lòng bao dung nhân hậu, niệm tình tha thứ. Người viết tin tưởng rằng, với kiến thức rộng rãi, sự khôn ngoan sáng suốt và đặc biệt ơn soi sáng của Thánh Linh, hàng giáo phẩm VN sẽ thừa sức lãnh đạo giáo hội Công Giáo VN đóng góp tích cực vào công việc đòi hỏi cho dân tộc Việt Nam có được ấm no, hạnh phúc trong hoà bình đích thực. Công lý và bình đẳng được thể hiện đến mỗi người và mọi người.

Phong trào cầu nguyện trong hoà bình chưa biết diễn biến thành bại ra sao trong những ngày sắp tới. Tin mới nhất: toà thánh Vatican qua việc vị Hồng y Quốc Vụ Khanh, trong tinh thần hoà giải, đã có thư gửi cả hai bên, và những tiếp xúc với một số toà đại sứ CSVN để nói lên mối quan tâm lo lắng vụ việc có thể dẫn đến bạo ngôn bạo lực, và mong muốn hai bên có một sự đối thoại trực tiếp và thẳng thắn. Toà Giám Mục Hà Nội, với lòng tôn trọng ý kiến của toà thánh vì mục đích hoà bình, cũng là để chứng tỏ thiện chí mong muốn một giải quyết ổn thoả, với sự bắt đầu bằng đối thoại trong tinh thần tôn trọng sự thật, đã có một nhượng bộ là thỉnh cầu giáo dân gỡ bỏ số lều trại dựng tạm trước đây và rước tượng thánh giá về lại ngôi nhà thờ lớn. Giáo dân, với lòng tôn trọng và tuân phục vị lãnh đạo tinh thần, tin tưởng vào tài trí và sự khôn ngoan của các ngài để có được một giải pháp tốt đẹp, đã đồng ý đưa thánh giá ảnh tượng về lại thánh đường.

Canh thức đã qua nhưng việc cầu nguyện vẫn tiếp tục, tại thánh đường, tại tư gia, từ trong nước ra hải ngoại, từ cộng đồng Công Giáo VN đến các cộng đồng Công Giáo toàn thế giới. Dù có đạt được kết quả đòi hỏi hay bị nghiền nát đè bẹp, bị vô hiệu hoá, phong trào cầu nguyện cũng đã nói lên được một điều là giáo hội Công Giáo VN từng âm thầm đấu tranh trước đây nay đã công khai nhập cuộc. Giáo hội không thờ ơ trước những bất công của con người, xã hội và dân tộc. Giáo hội cũng chỉ cho thế giới thấy rõ đâu là sự thật về cái gọi là tự do tôn giáo tại VN. Giáo hội đã làm cho nhà cầm quyền CSVN thấy rõ và rung động thực sự trước sức mạnh của tôn giáo , của niềm tin nói chung, sự mềm dẻo nhưng kiên trì và tính kỷ luật cao của giáo hội Công Giáop VN nói riêng.

Công Giáo VN đang nhập thế. Người giáo dân Công giáo VN mời gọi quý tín hữu các tôn giáo khác tại VN, và cả những người vô thần, cùng đồng hành nhập thế với người Công Giáo VN để cùng đòi hỏi công lý và hoà bình cho mọi người dân VN. Quý vị không cần phải tin Chúa. Quý vị cứ cùng cầu nguyện với giáo dân lên Đấng Tối Cao của riêng mình. Hay không cầu nguyện cũng được. Một nụ cười thông cảm trong ánh mắt, một cử chỉ thân thiện và đồng lòng với giáo dân khi quý vị gặp họ cũng đủ.

Cầu Thiên Chúa và Mẹ, Đấng chí tôn, chư Phật mười phương đoái thương phù trợ cho dân tộc Việt Nam lấy lại được CÔNG LÝ và HOÀ BÌNH.

01/02/2008
Các bài liên quan:
- Giáo dân VN cầu nguyện đòi lại đất, tin ngắn DCV
- Làm gì với tài sản giáo hội?,Việt Hoàng
- Mùa xuân của giáo hội(I),Trần Phong Vũ
- Mùa xuân của giáo hội (kết),Trần Phong Vũ
- Giáo dân HN tiếp tục cầu nguyện đòi đất,tin ngắn DCV
- Đấu tranh bất bạo động,Trần Bình Nam
- Cuộc cách mạng bằng lời cầu nguyện(I,II),Trần Phong Vũ
- Hình ảnh và các bài viết tổng hợp về vụ việc cầu nguyện đòi đất tại Toà Khâm Sứ,trích từ website vigiaohoiconggiaovn.

Đối thoại với Nguyễn Gia Kiểng 2

Lan man về những xét lại bắt buộc

Xin đi thẳng vào những nhận định xét lại bắt buộc của ông Nguyễn Gia Kiểng:
1/-
Khí thế đấu tranh trong nước đang tàn lụi, hải ngoại chỉ biểu lộ một sự bất lực.
Nhận định sau những cuộc đàn áp dữ dội trong vài tháng qua, công cuôc đấu tranh trong nườc đang tàn lụi vì một số người vào tù, một số phải đào thoát và một số bỏ cuôc,theo tôi, là một nhận định thiếu khách quan. Nó chỉ đúng nếu cho rằng vào tù làxong chuyện. Bắt bớ, giam cầm, tù tội, số người tham gia vào các tổ chức đấu tranh không giảm. CSVN đã bắt bớ bỏ tù hàng triệu người dân VN, hàng triệu người khác đã phải đào thoát trong mấy chục năm qua, sự đấu tranh phản kháng, khi ẩn khi hiện, thời điểm nào cũng tồn tại, còn lan rộng từ miền Nam ra đến cả miền Bắc, từ tỉnh thành này sang tỉnh thành khác, từ giới tri thưc, lãnh đạo qua đến thành phần nhân dân lao động.
Như thế, sự đấu tranh không những không tàn đi mà còn mạnh hơn , Cá nhân những người được coi là lãnh đạo công cuộc đấu tranh bị bắt bớ giam cầm, chưa hề có ai tỏ dấu đầu hàng. Trái lại , dù ở trong cái nhà tù nhỏ hay ra ngoài nhà tù lớn, tất cả đều kiên định lập trường đấu tranh cho dân chủ của họ. Nhà tù, trong ý niệm tích cực, là một nơi rèn luyện bản thân , giữ vững tư cách của người lãnh đạo. Như lời của LM Lý tử trong tù vừa gửi ra:cha Lý cho rằng thời gian trong tù của cha có lẽ lại tốt hơn ,làm việc nhiều hơn nếu như lúc này cha đang ở Xóm Củi,cha nói chắc chẳng làm được gì.
Lịch sử thế giới cũng đã chứng minh những nhà lãnh đạo lớn Mandela, Wales, Gandhi… đều có những quá trình tù tội lâu năm, một hy sinh lớn lao cần phải có cho sự tôi luyện ý chí và củng cố tinh thần trước những thử thách cam go của công cuộc. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Những khó khăn gian khổ ấy cũng là những phương tiện sàng lọc những người yếu đuối, không bền tâm, thiếu tài năng và loại bỏ những kẻ cơ hội. Đám quần chúng thì có cơ may phân biệt đá vàng. Hoàng Minh Chính, Nguyễn văn Lý đã từng vào tù ra khám nhiều lần, lửa đấu tranh trong lòng vẫn ngùn ngụt. Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, PhạM Hồng Sơn…bước ra khỏi song sắt vẫn cất cao tiếng nói , bước đấu tranh đâu có chùn bước.

Nói về bên ngoài, có thực khối hải ngoại chỉ biệu lộ một sự phẫn nộ bất lực không? Giữ cho một khối người trải rộng khắp nơi trên thế giới biểu lộ được sự phẫn nộ đã là một điều đáng ghi nhận. Không có một phương tiện chính trị, ngoại giao nào để có thể ảnh hưởng lên quốc tế, nhưng đã thúc đẩy các cơ quan, chính quyền các nước lên tiếng biểu lộ những phẫn nộ cùng với mình , không phải là một thành công sao? Cho dù có đánh giá những lên tiếng quốc tế đó còn quá yếu và chưa đúng mức? Sự phẫn nộ lại càng chứng tỏ phong trào đấu tranh cho dân chủ Việt Nam không tàn lụi đi mà mạnh mẽ hơn, một điểm mà ông NGK đã tự mâu thuẫn. Người Việt hải ngoại đang làm cho thế giới thấy rõ CSVN đang lừa bịp họ, người Việt trong nước vững tâm hơn trong việc xuống đường biểu tình chống đối đòi hỏi công bằng xã hội vì biết bên cạnh họ có sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ bên ngoài, như vậy là phẫn nộ bất lực?
2/- Dự án thống nhất của ông Hoàng Minh Chính tự nó tiêu tan dù không bị đàn áp.
. Chuyến đi của ông HMC vào năm 2005 với mục đích chữa bệnh, có thể có mục tiêu liên kết chính đảng của ông và một số nhân sự, tổ chức ngoài nước, không phải là đại diện cho tất cả mọi khuynh hướng trong và ngoài. Mục tiêu thành công hay thất bại, vẫn còn là một ẩn số, chỉ chính ông HMC và một số tổ chức như của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi có thể trả lời. Một điều chắc chắn, không có sự liên hệ mật thiết gìãu chuyến đi này với Khối 8406, vì sau khi tuyên ngôn nhân qiuyền của khối 8406 ra đời, nhóm này đã cho phổ biến một bản tuyên ngôn riêng chỉ mấy ngày sau đó Vì thế, dự án thống nhất này chỉ là một sự suy đoán của ông NGK không có cơ sở và bằng chứng.
Khối 8406, như tên gọi của nó, là tập hợp của nhiều cá nhân , tổ chức với khuynh hướng khác nhau nhưng có chung một mục tiêu đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Vì vậy, không thể đòi hỏi khối này có sự kết hợp chặt chẽ và có kỷ cương như một tổ chứcNgày 08/04/2006,Khối đã ra bản tuyên ngôn. Mọi cá nhân , tổ chức đã ký tên trong đó có thể hoạt động theo cách riêng của mình trong tinh thần của bản tuyên ngôn và cùng một mục tiêu dân chủ và nhân quyền. Nếu khối chỉ dừng lại ở bản tuyên ngôn, thì hoạt động của khối coi như không hữu hiệu hay chỉ có giá trị hình thức. Chính các cá nhân, các tổ chức trong khối cần dựa vào bản tuyên ngôn, dựa vào vị trí và khả năng của từng người từng tổ chức để hành động thực hiện hay đòi hỏi phía bên kia phải đáp ứng những điều khoản của tuyên ngôn cho nhu cầu đòi hỏi của nhân dân. Hiểu như thế, chúng ta sẽ thấy mỗi người có một phương cách hành xử đấu tranh khác nhau, trong nước khác ngoài nước, tu sĩ khác người thường, trong đảng khác ngoài đảng. Điều quan trọng là mọi hành động đều nằm trong phạm vi và phù hợp với tinh thần của bản tuyên ngôn.
3/-LM Nguyễn Văn Lý, Ls Nguyễn văn Đài cùng những nhà dân chủ trong nước khác là nạn nhân của cách đối lập tại hải ngoại.
Xin nói rõ ngay đây là không có đối lập với nhà cầm quyên CSVN tại hải ngoại. Khối người Việt hải ngoại có muốn làm đối lập thì cho đến lúc này, CSVN vẫn không chấp nhận. Người Việt hải ngoại đang xây dựng và phát huy công cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho người Việt trong nước, những quyền mà họ đã đang được hưởng từ những quốc gia định cư.
Việc thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá đất nước phải tận dụng mọi cơ hội và thường là không đầy đủ, không có chuyện vận dụng quá mức sức anh em trong nước như nhận định của ông NGK. Các nhân sự mà ông cho là nạn nhân của người Việt hải ngoại , trong cái tạm gọi là thành phần lãnh đạo đối kháng trong nước, hần như tất cả là những người trí thức, có tầm hiểu biết trong ngoài khá rộng rãi. Họ dư biết những khó khăn, họ chấp nhận hy sinh gian khổ, họ sẵn sàng chờ đợi những bắt bớ giam cầm. Ho không phải là loại ngây thơ bị hải ngoại xúi dại như ông nhận định. Những lời tuyên bố của họ( cha Lý. Ls Đài, ls Công Nhân, nhà văn TKT Thuỷ) trước khi họ vào tù là những bằng chứng hiển nhiên. Cho rằng họ nhẹ dạ nghe lời hải ngoại để dấn thân vào tù tội là một sự mạ lỵ nặng nề khả năng hiểu biết của họ và chối bỏ sự hy sinh cao quý của họ.
Hơn thế nữa, những hy sinh cao cả này đang đạt được những thành quả to lớn cả trong và ngoài nước. Đó là tiếng sét đánh động lương tâm con người trong và ngoài nước trước bạo lực CS, mở mắt dư luận thế giới đang đui mù khỏi sự giả trá lừa bịp, trấn an nỗi sợ của nhân dân, để họ tự đứng lên tranh đâú giành lại quyền lợi của mình.
Ông NGK có lối nhận định quái đản :kết tội nạn nhân thay vì tội phạm, giồng như một giáo sĩ Hồi Giáo tại Úc vài tháng trước đây lên án những nạn nhân bị hiếp dâm tại Úc là ăn mặc hở hang để khiêu khích bọn hiếp dâm như đưa thịt vào miệng mèo. Các nhà dân chủ trong nuớc thi đua xô bố, khiêu khích cốt gây tiếng vang để vào tù, Không biết ông đã có kinh nghiệm ngòi tù, nhất là tù trong một chế độ CS như thế nào chưa để có thể viết rằng những người tranh đấu vào tù cố lấy tiếng?

4/- Phải biết trước bị đàn áp và phải có phương án để khai thác sự đàn áp. Tưởng rằng đảng CSVN sẽ không dám đàn áp thẳng tay vì sợ phản ứng của thế giới.
Dỉ nhiên là người Việt Nam, ai cũng có thưà kinh nghiệm về CSVN, miền Bắcệ hơn 60 năm và miền Nam hơn 32 năm qua. Ai cũng biết , một người có tư tưởng đầu óc phản kháng lại độc quyền lãnh đạo của đảng CSVN, dù là bất bạo động, trưiớc sau gì cũng bị đàn áp. Đảng CSVN không cho phép bất cứ ai, kể cả đảng viên của đảng CS, được quyền phê phán thách thức độc quyền lãnh đạo này. Do đó, đặt vấn đề như vậy thất là thừa thãi. Các nhà dân chủ trong nước họ biết và họ chấp nhận cái giá bị đàn áo đó. Còn phương án để khai thác ư? Thế thì tấm hình 'bịt miệng' trong phiên toà xử cha Lý cùng những hình ảnh,cùng băng đoạn thu hình ghi âm các phiên toà xử những nhà đấu tranh khác” Nguyễn Văn Đài, Lê thị Công Nhân, Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Thế Truyền, những tấm hình ghi cảnh dân oan khiếu kiện và sự đàn áp dã man của công an đang được phổ biến rộng rãi cùng khắp thế giới , không phải là sự khai thác hữu hiệu, triệt để và khôn ngoan về sự bạo hàng của CSVN thì là gì? Nhà cầm quyền CSVN đâu còn có thể dung ngôn từ bịp bợm giả dối để bao che cho những tội ác của họ được nữa. Cũng nên nói thêm rằng, những bản án xét xử từ 3 đến 8 năm tù của nhà cầm quyền CSVN dành cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước vừa qua, so với những cái án chung thân, tử hình dành cho Mai Văn Hạnh, Trần văn Bá và rất nhiều chiến sĩ tự do dân chủ vô danh khác ở thời điểm mười, mười lăm năm về trước, , chúng ta cũng thấy đảng CSVN ít nhiều đã có sự chùn tay đàn áp, không chỉ vì sợ phản ứng của thế giới, mà lo ngại luôn sức bật của người dân, già néo đứt dây, như chúng ta thường nghe.
Phản ứng của thế giới, đặc biệt Hoa Kỳ có chừng mực, đó là lẽ đương nhiên . Theo cách nhìn có chiều hướng dân tộc, đây là vấn nạn của nhân dân Việt Nam, thì người dân Việt phải là thành phần tự nhận lấy trách nhiệm chính giải quyết vấn đề. Người ngoài cuộc chỉ góp công sức yểm trợ. Chúng ta không bảo họ làm thay chúng ta. Do đó không thể áp lực họ cắt đứt mọi quan hệ bình thường hay từ bỏ những ích lợi cho dất nước của họ. Điều chúng ta cần làm là hướng dẫn họ đi sát với thực tế, để cho mối quan hệ có lưu thế cho cả hai bên, quyền lợi thu được phải nằm trong nguyên tắc dân chủ nhân quyền, không nên trở thành phương tiện cho bọn độc tài chuyên chế gây nguy hại đến người dân bình thường.
Theo tầm nhìn bao quát nhân loại, đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho người dân thấp cổ bé miệng là nghĩa vụ chung của mọi người, nhất là những người đang được hưởng đầy đủ những quyền này. Trong cái tinh thần tương thân tương ái này, chúng ta kêu gọi thế giới cùng nhập cuộc , tạo áp lực họ có thể có, chẳng hạn những quan hệ có điều kiện với nhà cầm quyền CSVN để thúc đẩy công cuộc thay đổi dân chủ hoá Việt Nam mau chóng hơn.
5/- Có thể lật đổ nhà cầm quyền CSVN không?
Bằng vũ lực và các phương tiện chiến tranh, có thể nói là không. Không một quốc gia nào trong thời đại hiện nay sẽ giúp ta làm chuyện ấy. Lật đổ một chính quyền cũng có nhiều phương cách không cần tới vũ lực. Các quốc gia Đông Âu thời thập niên 90 và một số khác trong một vài năm vừa qua đã làm được chuyện đó:những cuộc cách mạng nhung. Ở Việt Nam, điều này cũng có thể xảy ra. Giả thuyết một ngày nào đó, tập thể Quân Đội Nhân Dân VN bỗng nhận ra họ không thể là một công cụ cho nhà cầm quyền CSVN để đàn áp chính nhân dân VN , lại hèn hạ làm tay sai, bán đất nhượng biển cho CS Trung Quốc , thay vì phục vụ đảng CSVN, họ trở về phục vụ đất nước, dân tộc , đứng lên giải thể đảng viên CS
,hay buộc họ.ra khỏi hàng ngũ quân đội, nhận trách nhiệm bao vây áp lực đảng CSVN trả lại quyền lãnh đạo về tay nhân dân.
Một viễn cảnh khác: những cảnh biểu tình khiếu kiện của nhân dân cứ ngày một lan rộng đến một mức nhà cầm quyền không thể đàn áp nổi, mọi sinh hoạt của quốc gia bị ngưng trệ và chúng ta có thể tiên đoán điều gì sẽ xảy ra. Một sự thực đau lòng là trong khi khí thế quần chúng trong nước đang lên, họ đang cần những người lãnh đạo để tổ chức hoá và kết hợp chặt chẽ, cần những bộ óc trí thức để suy luận, phân tích, phán đoán tình thế chính xác để đưa ra những hướng dẫn đấu tranh khôn khéo và cu thể thì giới trí thức lại trùm chăn, thờ ơ . Ai cũng biết thành phần trí thức thường ở trong tầng lớp thanh niên, sinh viên học sinh, những người trẻ tuổi , năng động và có nhiều nhiệt huyết, chính họ là linh hồn của mọi phong trào, mọi cuộc cách mạng. Thế nhưng xem ra , ở Việt Nam hiện tại,thành phần này biến đâu mất cả. Trung Quốc còn có một vụ Thiên An Môn mà giới trí thức còn ngửng cao đầu.

Nhưng tại sao lại đặt vấn đề lật đổ ở đây. Mục đích của công cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ đa nguyên cho Việt Nam nằm trong ý nghĩa của những chữ tự do, dân chủ và nhân quyền. Các nhà đấu tranh, nhân dân trong và ngoài nước đang đòi hỏi những quyền căn bản đó, dù có phải lật đổ nhà cầm quyền đương thời hay không. Những tiếng nói lên tiếng đấu tranh , những cuộc đình công xuống đường khiếu kiện trong nước, những cuộc biều tình ngoài nước chống sự đàn áp dã man người dân của nhà cầm quyền CS trong nước , yêu cầu xoá bỏ bất công, những thông tin thế giới và nhận thức dân chủ loan truyền về trong nước có nên bị kết án là những hành động , phương tiện nhằm lật đổ nhà cầm quyền CS không? Cứ cho đó là những “diễn biến hoà bình của các thế lực phản động nước ngoài nhằm lật đổ nhà nước CHXHCNVN” cần phải loại bỏ, cần đi đến kịch bản hoà hợp hoà giải, thì hãy nhìn thẳng vào thực tế.Người dân vừa qua đã phải đi bầu Quốc Hội, những đại diện của dân với sự đắc cử thường trên 90% số phiếu, nhưng khi họ đến văn phòng để kêu oan kéo dài cả tháng , không có được một đại biểu ra tiếp thì giải pháp hoà hợp hoà giải sẽ được thưc hiện với ai, ở đâu và ra sao? Chưa có được cái tự do ngôn luận tối thiểu, tai bị che, mắt bi bưng, miệng bị bịt, tay bị còng, chân bị xiềng, bụng bi bỏ đói, đít không cho ỉa thì đối thoại, hoà hợp hoà giải chỉ là chuyện mộng du.
6/- Sự tranh chấp trong các phe phái nội bộ CSVN kể như đã chấm dứt.
Không ai thực sự biết rõ tình trạng phe phái nội bộ CSVN thực hư ra sao. Từ những lối phân chia thủ cựu/cấp tiến, phe Bắc/ phe Nam hoặc phe thân Trung Quốc/ phe thân Mỹ…Tất cả chỉ là sự suy đoán. Sự suy đoán này cũng không có mấy chính xác khi thực tế xảy ra cứ chồng chéo lên nhau ngược với những suy đoán. Việc ông cựu TBT Lê Khả Phiêu được cho là do phe cánh Đỗ Mười/Lê Đức Anh bảo thủ đưa lên, rồi cũng chính 2 ông này hạ ông Phiêu xuống là một ví dụ. Việc Nguyễn Tấn Dũng được coi là thành phần phe đổi mới nhưng khi làm thủ tướng , dù đang làm ra vẻ cải cách hành chính, trẻ trung hoá chính quyền theo lối dân chủ Tây Phương, vẫn cứ phải qua bái kiến, nhận sự chỉ đạo của Bắc Kinh là một thí dụ khác. Một điều chắc chắn là dù có nhiều tranh chấp phe phái, dù có phải tiêu diệt tàn sát lẫn nhau, bọn cầm quyền CSVN củng đồng tình và hợp lực với nhau ở một điểm là nhất quyết không để cho bất cứ ai đụng chạm đến quyền lãnh đạo độc tài đảng trị của họ, kể cả đó là những đảng viên CS trung kiên cao cấp nhất của họ. Vì vậy, việc CSVN đoàn kết hay chia rẽ, sự tranh chấp phe phài vẫn còn hay đã chấm dứt không phải là chỗ dựa chính cho công cuộc đấu tranh dân chủ cũa nhân dân VN. Có điều đó thì càng tốt , phong trào đấu tranh có thêm một chút lợi thế khai thác. Không có điều đó thì con đường đấu tranh cho dân chủ vẫn cứ phải đi. Riêng về nhận định” tình trạng ổn vững nội bộ của đảng CSVN chưa chắc là điều xấu cho tiến trình dân chủ, nó có thể là tốt” của ông NGK, thì quá sức hiểu biết của tôi, xin miễn bàn.
7/- Khẩn cấp từ bỏ ngôn ngữ giả dối quốc nội là chủ lực, hải ngoại chỉ có vai trò yểm trợ.
Trước hết, hoàn toàn phản đối cách dung từ “ngôn ngữ giả dối “ trong câu viết đó. Lý do: cho dù xét lại này của ông Kiểng có đúng chăng nữa, thì cái chủ trương quốc nội là lực lượng chủ lực, hải ngoại là thành phần yểm trợ cùng lắm là sai lầm, ông NGK phát biểu đó là ngôn ngữ giả dối , có nghĩa ông buộc tội chúng tôi, những người có quan niệm đó lừa gạt quần chúng trong nước. Đây là một lời kết tội nặng nề không thể bỏ qua ,bởi vì khi chúng ta tranh đấu cho lẽ phải, công bình và sự thật thì không thể giả dối. Không ai phán xét một sai lầm vế phương cách hành động của môt đồng minh cùng chí hướng với mình bằng lời tuyên án mạnh bạo có tính cách thoá mạ như thế. Thành thực mà nói, tôi nghĩ rằng khi có nhận định xét lại này, ông NGK đã đứng trên quan điểm của (những?) người, tổ chức có ước vọng lãnh đạo chính trị, ông dựa vào những diễn biến lịch sử thế gìới của những năm trước thời chiến tranh lạnh và ông quên đi phần lịch sử của những năm hậu hiện đại, nhất là trong vài năm vừa qua với những cuôc cách mạng Cam, Hoa Hồng, Hoa Cẩm Chướng.
Điểm khác biệt quan trọng là chúng tôi đặt chủ trương theo quan niệm quần chúng đa số( 80 triệu trong nước + 3 triệu ở hải ngoại). Với chủ trương này thì bất cứ phong trào, hay cuộc cách mạng nào nếu muốn thành công phải phát xuất từ trong nước và thành phần trong nước phải là chủ lực, hải ngoại có làm gì cũng chỉ là thành phần hỗ trợ. Tổ Chức Hải ngoại muốn lãnh đạo phong trào, công khai hay bí mật, hãy cử nhân sự trở về trong nước trực tiếp chỉ huy, không thể hô hào từ xa. Như trên đã nói, đây là một chủ trương, có thể đúng đắn hay sai lầm, không nên đặt vấn đề chân thật hay giả dối. Cũng cần nói thêm, vì chỉ là quan niệm của quần chúng nên chỉ có thể là tiếng nói của lương tâm, chưa có thể có giải pháp cho đất nước. Những giải pháp, những chiến lược cho đất nườc để dành cho những thành phần lãnh đạo. Còn sự đấu tranh cho dân chủ VN là sự đấu tranh chung, dành cho tất cả mọi người có tấm lòng với đất nước. Không nên vì sự khác biệt trong hình thức đấu tranh mà lên tiếng khinh bỉ những hình thức đấu tranh bộc phát này là “một cuộc lên đồng, một sự gây ảo tưởng mạnh,” và lên án một chế độ là: “tuy không bạo ngược như chế độ cộng sản nhưng cũng không phải là một chế độ tốt(xấu chỗ nào không thấy nói tới, ít nhất nó không bạo ngược đã là một điều quá tốt),một chế độ không có ý chí(?
Không hiểu ý ông) và chưa bao giờ có một nhân sự chính trị đúng nghĩa (như thế nào là một nhân sự chính trị đúng nghĩa? một nhân vật làm thí dụ điển hình?).
Xin chấm dứt luận bàn về một chế độ đã qua ở đây, vì ông NGK cũng như tôi, có lẽ tuổi đời, kinh nghiệm và những dữ kiện trong thực tế và trong nghiên cứu chưa đầy đủ cho sự phê phán của chúng ta.

8/- Khối người thoát ra được nước ngoài là một khối người rã hàng, đầy cắm thù và tuyệt vọng, đấu tranh chỉ cốt để biểu lộ và trút bớt hận thù.
Một nhận định xét lại mang tính mạ lỵ hàng triệu người khắp nơi trên thế giới không cơ sở, không bằng chứng và giống hết luận điệu của nhà cầm quyền CSVN nói về khối người Việt nước ngoài. Trước tiên, thống kê nào cho ông thấy khối người Việt hải ngoại là một khối người rã hàng, đầy căm thù và tuyệt vọng?
Người Việt hải ngoại là một tập hợp rất nhiều thành phần: có những người có mặt từ trước những ngày cuối tháng Tư - Bẩy Lăm, một số lớn đã di tản trong những ngày ấy, số lớn khác , bao gồm cả những người từ miền Bắc không thuộc chế độ cũ) ra đi bằng vượt biển, một số , đa số từ miền Bắc, chọn ở lại sau sự kiện Đông Âu, một số sau này định cư qua các chương trình xuất khẩu lao động. Nói chung là đủ mọi thành phần trong cái khối người thoát ra nước ngoài. Như vậy đây là một nhận định sai lầm. Họ có căm thù và tuyệt vọng không? Con người chỉ tuyệt vọng khi đi đến chỗ cùng đường. Thực tế hiện nay, đại đa số người Việt tại hải ngoại dù ở đâu trên thế giới đều có một đời sống tương đối tự do, sung túc và hạnh phúc đầy đủ hơn đa số người Việt trong nước, sư thật này là hiển nhiên ai cũng công nhận, vậy làm sao họ có tình trạng tuyệt vọng?
Còn căm thù. Nếu nói căm thù Cộng Sản vì bại trận thì chỉ là một số nhỏ. Tuy vậy, họ cũng có lý do để căm thù, khi mà cửa nát nhà tan, tài sản bị cướp bóc, gia đình ly tán hay đã tan hoang, cuộc sống không còn ý nghĩa. Ai có thể thấu hiểu nỗi mất mát đớn đau của họ, trong khi những kẻ tàn nhẫn gây nên đau khổ ấy vẫn nhhơn nhơn sống trên những thứ mà chúng cướp đoạt được, lại luôn miệng thoá mạ họ là những kẻ phản bột tổ quốc, loài cặn bã của xã hội.

Dù sao, thời gian cũng đã xóa bớt nỗi đau, họ chỉ là một số. Đa số không căm thù vị bại trận. Họ chưa một lần bại trận. Nếu có sự căm thù, đó là căm thù sự phi nhân tàn bạo, sự gỉa trá lừa bịp, sự độc tài toàn trị của đảng CSVN lên đất nước VN hiện tại chứ không vì một chế độ cũ. Các công cuộc đấu tranh mà họ tham gia hoàn toàn có tính cách tự nguyện, vì lòng thiết tha với đất nước, vì tình dân tộc, nghĩa đồng bào chứ không phải để biểu lộ hận thù, trút bớt hận thù.
Đôi khi trong một thời điểm nhất định, dưới khí thế của những cuộc xuống đường biểu tình, một vài lời quá khích của một vài cá nhân không kiềm chế được không phải là quan điểm của đám đông, cũng không biểu lộ hoàn toàn cái tâm của những cá nhân trong nhất thời ấy.
Nói chung, khối người Việt hải ngoại, như ông nhận định, có một đời sống ổn định, có đầu đủ tự do, dân chủ và nhân quyền. Không ai bắt buộc họ phải đấu tranh. Họ tự nguyện đấu tranh không cho họ mà cho nhân dân trong nước. Vì thế khi cho rằng họ đấu tranh chỉ cốt để biểu lộ hận thù đã không những phủ nhận giá trị lòng yêu nước thương đồng bào của họ mà còn gán ghép thoá mạ sự tham gia đấu tranh của họ vào một hành vi có mục đích đê tiện nhỏ nhen.

Tôi biết ông NGK là người có tấm lòng với đất nước, và việc ông phê phán nhằm mục đích xét lại các phương thức đấu tranh có vẻ như bế tắc hiện nay để cải thiện và hướng dẫn công cuộc đấu tranh đến một hướng đi mới, thúc đẩy tập hợp đoàn kết quần chúng, kiện toàn tổ chức để có thể thúc đẩy một giải pháp khả thi cho đất nước hơn.
Tôi cũng biết, qua các bài viết, ông NGK có nhiều tham vọng, và tham vọng lãnh đạo chính trị là một trong những ước mơ lớn của ông. Thế nhưng , để là một nhà lãnh đạo chính trị có tầm vóc, chưa nói đến tài ba lỗi lạc., dù trong tinh thần phê phán hay tự phê, dù những lời phê phán đúng sai, có cần những lời lẽ quá mạnh đến gần như thoá mạ đó hay không? Nhất là những lời lẽ được đưa ra công khai trên báo, mạng cho một cuộc tranh luận. Một lời chỉ trích quá nặng cho một tập thể quá lớn, trong khi ý của ông chỉ muốn đặt vấn đề xét lại cho một số nhân vật, tổ chức mà ông nghĩ là thành phần lãnh đạo, chịu trách nhiệm cho công cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam. Quần chúng sẽ nghĩ gì khi nghe một nhà lãnh đạo có những lời hiệu triệu với những lời lẽ trong bài “Thời điểm của môt xét lại bắt buộc" của ông.
Ngay cả những nhóm người “ làm nhiệm vụ lãnh đạo” cũng đả phải góp ý “nhăn mặt” trong nhiều bài nhận định gần đây cả trong và ngoài nước.
Làm lãnh đạo không chỉ có tài, mà phải có đức. Một trong các đức ấy là lên tiếng phê phán sao để người bị phê phán cảm nhận được cái sai lầm của họ, nhưng ho vẫn thấy được cái dụng tâm sửa chữa và khuyến khích họ làm tốt hơn, đồng thời họ vẫn mến phục, chứ không phải để họ cảm thấy bị lăng nhục thoá mạ đến oán ghét và đi đến chống đối. Chưa kể, người lãnh đạo phải hiểu mình cũng sai lầm, biết nhận thức và sửa chữa những sai lầm đó.
Cũng như bao nhiêu người khác, tôi sẽ ủng hộ ông NGK và Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên hết mình, khi ông và tổ chức THDCĐN có một giải pháp khả dĩ thúc đẩy mau chóng các quyền tự do căn bản nhất cho nhân dân VN. Bước đầu, chỉ cần nhắm đến mục tiêu ba Tự Do căn bản thôi, thưa ông: Tự do sinh sống,tự do ngôn luận, tự do tôn giáo.
Phương Duy Australia.
10 Aug 2007
Các bài liên quan:
_ Thời điểm của một xét lại bắt buộc, Nguyễn Gia Kiểng
- Qua bài'thời điểm của một xét lại bắt buộc của NGK,Nguyễn Văn Hiệp
- Vài lời với ông Giang, ông Kiểng,Hoàng Tiến