Showing posts with label truyện ngắn. Show all posts
Showing posts with label truyện ngắn. Show all posts

Nhớ về người lính vô danh

Đi về cõi hư vô (2)

Tưởng nhớ về V. và những người lính vô danh
ra đi không bao giờ trở lại.


Thuỵ Nhung ngạc nhiên:

– Vậy sao? Anh còn đang đi học cơ mà!

– Anh rớt kỳ thi vừa rồi nên không còn được hoãn dịch. Chiến tranh mỗi ngày mỗi
leo thang. Mọi người đều bị động viên. Anh không muốn số phận mình do người khác định đoạt, muốn đưa mình đi đâu tuỳ họ. Vả lại anh yêu màu mũ đỏ nên đã chọn binh chủng dù. Em nghĩ thế nào?

– Em buồn. Nhưng biết làm sao?

Vũ từ giã Nhung đi vào quân trường vào một ngày cuối tháng Năm. Trại Vương Mộng Hồng cho người tân binh dù có những tập huấn khắt khe kỷ luật hơn những trại khác. Cơm nước thì cứ canh dưa leo cá mối chiên làm chuẩn. Ra khỏi trại lúc nào cũng hàng ngũ chỉnh tề, súng trên tay, ba lô trên vai và chỉ có chạy. Tác phong người lính dù chạy thay cho bước đi, nhanh nhẹn tháo vát là châm ngôn.

Những buổi chiều cuối tuần, Vũ cùng người anh trai lúc đó đang là sinh viên sĩ quan hải quân cũng đang thụ huấn căn bản quân sự tại Quang Trung gặp gỡ. Anh em kéo nhau lên khu câu lạc bộ ngồi nhâm nhi ly bia nói chuyện. Cũng lạ. Ở nhà ít khi nào hai anh em nói với nhau một lời. Rời gia đình rồi lại có khối chuyện kể cho nhau nghe. Ngày Chúa Nhật, có khi mẹ vào thăm cả hai đứa, có khi Thuỵ Nhung cũng lò dò đến. Nàng bảo dạo này anh đen và gầy hơn, nhưng coi rắn rỏi gân guốc hơn. Vũ hóm hỉnh:

– Vậy em nên mừng. Khỏi lo có người cướp mất anh

Thuỵ Nhung nguýt anh:

– Làm như mình ngon lành lắm. Giờ ai muốn em tặng không đó.

Vũ hôn cô và hỏi:

– Em thấy anh sao? Có mùi vị gì không ?

– Có, mùi chua và khét nắng. Bộ xa em rồi anh nghĩ không cần tắm rửa?

– Có chua và khét mới thành người lính. Tụi anh có câu “Sa trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Làm người yêu của lính phải biết yêu chua yêu khét.

Đi vào khoá huấn luyện chuyên môn nhảy dù còn có nhiều khó khăn phức tạp hơn. Những buổi tập nhảy chuồng cu hay những lẩn đi thực tập nhảy dù trên không, mặc dù đã được chỉ dẫn lý thuyết kỹ luỡng, buổi thực hành thật vất vả. Nhiều anh to con lớn xác, bình thường rất yêng hùng bạt mạng, đến phiên nhảy cứ ỳ ra, chân tay cứng lại đến nỗi huấn luyện viên phải co giò đạp ra khỏi cửa máy bay. Vũ không tự mãn, nhưng có được bằng dù đeo trước ngực cũng đáng kiêu hùng.

Tháng ngày thụ huấn cực nhọc trôi qua, Vũ ra đơn vị. Ở đây rắc rối bắt đầu. Sau những giờ phút hành quân vất vả, cận kề nỗi chết, anh em đồng đội trở về nơi đóng quân, thường la cà vào những quán bên đường gần đó để giải khuây, tìm quên nỗi nhớ nhà. Tiểu đội của Vũ thường xuyên ghé vào quán của Thảo, một cô gái khá xinh xắn mà Trọng, người trung sĩ tiểu đội trưởng của Vũ rất mê. Riêng Thảo chẳng để ý gì đến chàng trung sĩ, lại ân cần niềm nở, một điều anh Vũ, hai điều anh Vũ. Trọng lấy làm tức tối bảo anh:

– Thảo của tao nghe mày Vũ. Vừa nhập cuộc chơi,đừng làm tao mất mặt.

Vũ nói:

– Cuả ai mắc mớ gì tới tao. Có bao giờ tao bảo cô ấy là của tao đâu?

– Nói cho mày biết . Mày khỏi xum xoe với nó

– Tao không cần xum xoe. Chuyện người ta đối xử ra sao với tao là chuyện của họ. Mày muốn gì cứ bảo thẳng cô ấy.

Tuy vậy, để giữ hoà khí trong tiểu đội, anh em ăn ngủ sống chết với nhau, Vũ tránh không ra quán Thảo.

Nhưng Thảo không chịu dừng lại. Vũ không tới quán thì cô bé vào tận nơi đóng quân thăm Vũ. Trọng ứa gan, hắn dùng quyền thượng cấp ra lệnh cho Vũ làm một việc cố ý hạ nhục anh trước mắt người con gái. Thảo ra về. Vũ không nói không rằng, bản tính ngang bướng nổi dậy, quay về phòng tìm cây súng cá nhân. Khi trở lại, anh kéo cơ bẩm la lớn:

– ĐM thằng Trọng đâu, tao bắn vỡ óc mày ra, thằng chó đẻ. Muốn cua gái cứ giở hết công phu tài nghệ ra, sao lại giở trò làm nhục tao. Thằng hèn.

Trọng thấy Vũ xách súng ra biết lớn chuyện nên lủi nhanh. Anh em đồng đội phải xúm lại khuyên nhủ để anh bớt giận. Chuyện cuối cùng tới tai cấp trên. Vũ bị phạt mười ngày trọng cấm. Ra khỏi chuồng cọp, anh buồn bực chán nản, không còn cảm thấy hứng thú trong sinh hoạt hàng ngày với đồng đội, nhất là cứ phải chạm trán ăn ngủ làm việc chung với Trọng.

Vũ bỏ ngũ, sang đầu quân vào một đơn vị thuỷ quân lục chiến. Lại những ngày gian khổ quân trường. Lần này không là những chuồng cu, những cánh dù trên không mà là rừng núi sình lầy dưới đất, trên biển. Ra trường được tái bổ sung cho một đơn vị, rồi đi tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Chiến dịch hoàn tất, Vũ bị thương được đưa về quân y viện điều trị.

Khi thiết lập danh sách để truy tặng huy chương, Vũ bị khám phá ra là một người lính dù đào ngũ. Các huy chương và bằng khen thưởng bị giữ lại. Thời gian sau khi bình phục, anh bị đưa ra toà án quân sự. Nhờ tiếp tục đầu quân vào một binh chủng tác chiến và công trạng trong việc chiếm lại cổ thành, thời gian quân ngũ không gián đoạn, toà án huỷ tội đào ngũ đổi qua tội rời đơn vị không có phép, miễn hình phạt lao công chiến trường. Ngược lại, các huy chương tưởng lục bị tịch thu, giáng một cấp và phải trở lại đơn vị cũ.

Vũ chấp nhận hết, ngoại trừ việc phải trở lại đơn vị cũ, xin được đổi đến một đơn vị mới. Toà án nói anh cứ về trình diện bộ chỉ huy. Việc điều động đến đơn vị nào không thuộc quyền toà án. Vũ được đưa về trại dù trình diện thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Ông lắc đầu:

– Cậu coi mặt mũi hiền lành mà quá quắt hết sức. Giờ trở về phải sống đàng hoàng.

Vũ trình bày hoàn cảnh của mình với mối bất hoà cùng Trọng rất khó làm việc chung, xin đổi đi nơi khác. Ông thông cảm và còn đang phân vân chưa biết đưa anh đi về đâu. Bỗng ông y sĩ trưởng tiểu đoàn bước vào phòng. Ông phàn nàn lúc này chiến sự ngày càng gia tăng, tổn thất thương vong nhiều mà quân viện giảm, phương tiện quá thiếu thốn không đủ người làm việc. Tiểu đoàn trưởng quay về phía Vũ:

– Hay là ta huấn luyện thêm người. Cậu Vũ này chưa có đơn vị, gửi cậu đi học về Y khoá tới, bác sĩ thấy thế nào?

Dĩ nhiên vị y sĩ đồng ý. Vũ được gửi đi thụ huấn quân y. Vũ lại mừng. Đi học, lại được ở thành phố mấy tháng trước khi lên rừng. Thuỵ Nhung hẳn ngạc nhiên và vui. Gặp vừa lúc người anh trai hiện đã là quan hai lính thuỷ cưới vợ.

Từ dạo hai anh em gặp nhau ở quân trường Quang Trung đã mấy năm không nhìn thấy nhau, nay mới có dịp gặp lại. Lễ cưới xong xuôi, vợ chồng anh chị cùng Vũ và Thuỵ Nhung đi phòng trà nghe nhạc. Khi người hầu bàn đến, Vũ xé một mảnh giấy viết lên mấy chữ đưa cho anh ta và ghé tai thì thầm.

Trên sân khấu, Giọng hát Khánh Ly đang đi vào đoạn cuối:

Nơi em về ngày vui không em
Nơi em về trời xanh không em
Ta nghe từng giọt lệ
Rớt xuống thành hồ nước long lanh.

Tiếng vỗ tay chưa dứt, giọng người ca sĩ đã vang lên:

– Khánh Ly vừa trình bày “Như cánh vạc bay” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, thể theo
lời yêu cầu của một anh lính dù từ núi rừng xa xôi trở về. Anh xin để riêng tặng cho người yêu của mình là Thuỵ Nhung đang có mặt tại đây đêm nay. Xin quý vị một tràng pháo tay chào đón người về từ chiến trường, cùng người yêu bé nhỏ của anh.

Tiếng vỗ tay một lần nữa nổi lên. Vũ nhìn Thuỵ Nhung, mắc cỡ và sung sướng:

– Cám ơn anh Vũ. Nhưng sao anh lại tặng em bài “Như cánh vạc bay” Có phải lúc
này em gầy quá đi không?

Vũ cười:

– Đáng lẽ anh nên bảo Khánh Ly đổi thành “Như cánh Nhung bay” mới đúng. Phải, em có hơi gầy, cố ăn cho nhiều một chút. Gầy quá thì mất đẹp.

– Tại em nhớ… Tại anh đó.

– Không tại bị gì hết. Đùa tí vậy thôi. Thật ra, mỗi lần nghe tới bản nhạc này, anh luôn liên tưởng đến em. Vậy tặng em bài nhạc này là đúng điệu rồi.

Trên bục sân khấu, Khánh Ly đang chuyển qua bài hát “Dấu chân địa đàng”. Được dịp, Thuỵ Nhung hỏi:

– Sống ở trên rừng, anh đã tìm thấy dấu chân địa đàng chưa?

– Trên rừng làm gì có địa đàng. Anh chỉ thấy địa ngục thôi. Chiến tranh, bom đạn, đầu rơi máu chảy, đồng đội mới nói cười đây đó, thoắt một giây đã nằm xuống. Mà thôi, ở nơi bình yên này, quên chuyện chết chóc đau thương ấy đi. Anh chưa tìm thấy địa đàng vì anh là Adam chưa được ăn trái cấm.

– Trái cấm nào vậy anh?

– Trái cấm Thuỵ Nhung.

Vũ cười. Thuỵ Nhung đấm nhẹ vào lưng Vũ:

– Anh nói bậy, em hổng thèm nói chuyện với anh.

– Thật mà! Em là một thứ trái cấm vừa ngon ngọt vừa cay đắng mà anh khao khát. Hãy cứ là trái cấm để anh mơ ước. Dù có chịu hình phạt nặng nề ra sao, anh vẫn muốn có trái cấm trong tay như Adam được nếm ngày xưa vậy.

Ra về, Thuỵ Nhung thủ thỉ:

– Anh chị của anh bây giờ đã hạnh phúc. Còn chuyện chúng mình anh tính sao?

– Anh chưa vội tính! Cuộc đời đâu có như là mơ. Anh không ngại gì. Chỉ lo cho em lỡ thành goá phụ ngây thơ nếu anh có mệnh hệ nào. Cuộc chiến ngày càng tàn bạo và khốc liệt. Không biết anh có ngày trở về toàn vẹn với em không?

– Anh chỉ nói gở. Nếu đó là số phận thì em phải chấp nhận thôi. Đất nước lúc này,
triệu triệu người như anh như em, đâu phải chỉ mình chúng ta.

Vũ bảo cứ để đó, hiện chúng mình còn quá trẻ, hai đứa còn nhiều thời gian.

* * *


Cuộc chiến mang nhiều nghịch lý. Một đám người trong đầu không bao chữ nghĩa, tự nhiên mang về một mớ chủ nghĩa hoang tưởng ngoại lai, tự khoác áo cách mạng, rồi áp đặt, rồi kết án lung tung, kẻ này Việt gian, người kia bán nước, rồi phá hoại rồi khủng bố làm anh em trong nhà chém giết nhau.

Phía đem quân đi xâm nhập gây chiến thì được coi là chính nghĩa. Bên bảo vệ chống đỡ bị coi là phản quốc cầu vinh. Thằng nằm gai nếm mật, đói no gian khổ sống nay chết mai ở miền xa để chiến đấu bảo vệ an ninh cho đứa ở thành phố thì bị khinh khi ruồng bỏ. Đứa ở nhà an lành nhờ được bảo vệ thì chỉ biết rong chơi, quậy phá và ngạo nghễ đi chửi người đi bảo vệ mình là những thằng ngu cho sướng miệng, cho ra vẻ ta đây thức thời.

Ngay những chốn khỉ ho cò gáy cũng toàn những nghịch lý. Anh em đồng đội của Vũ lúc này đang chẩn bệnh phát thuốc chữa trị miễn phí cho đám dân làng quê. Nhưng có thể ngay đêm nay, ngày mai ngày mốt hoặc một thời điểm nào đó, chính những người này lại cầm súng bắn vào anh cùng bè bạn. Làm sao tránh khỏi việc bọn chúng trà trộn vào dân. Biết thế nhưng vẫn phải làm. Không nhận diện được họ, trong công tác nhân đạo không có kẻ thù.

Đại đội an ninh quanh làng đã rút, chỉ còn mỗi tiểu đội bảo vệ tại trường. Thị xã cách xa trên hai mươi cây số, lại ngược đường cứ điểm đóng quân. Đi và về phải mất hơn hai tiếng. Đường xá về đêm ở nơi này thập phần nguy hiểm, dễ bị phục kích. Bỏ đứa bé lại, mặc nó chết đêm nay thì bất nhân, lương tâm bị cắn rứt. Trung uý Trân hội ý.

Ngoại ô Sài Gòn circa 1965
Nguồn: firstbattalion.au.com
Cứu người là một nghĩa vụ phải làm. Kẻ thù bị bắt sống, có thương tích bệnh hoạn ta còn chữa trị, huống chi sinh mệnh của một người dân. Đối đầu sự nguy hiểm, vào sanh ra tử là chuyện thường tình của người lính, không nên nại cớ để trốn tránh. Vả lại, sự nguy hiểm mới chỉ là dự đoán, chưa chắc đã xảy ra. Vậy là tất cả đồng ý quyết tâm đưa đứa nhỏ về thị xã.

Tất cả chỉ có 2 xe, chiếc Dodge cứu thương mang hình chữ thập đỏ ngang hông và một chiếc GMC. Nhiên liệu thiếu thốn, cấp số tiếp liệu bị cắt giảm tới mức tối đa. Chiếc GMC không còn đủ để đi và về nên nằm lại. Chiếc xe cứu thương ngoài tài xế xe có bác sĩ Trân, Vũ và Hoàng đưa mẹ con đứa bé đi viện. Bác sĩ Trân kéo thêm hai người lính nữa đi theo. Cả tiểu đội còn lại phụ lực cùng cánh nghĩa quân trong đồn cách đó không xa trải đều yểm trợ an ninh dọc hai bên lộ, được đoạn nào hay đoạn đó. Hy vọng họ vẫn còn chút tình người, không tấn công xe cứu thương.

Năm giờ rưỡi khởi hành trời còn chút nắng le lói. Chiếc xe chạy nhanh và an toàn. Đi vào thị xã, xe chạy gấp đến bệnh viện trong tiếng còi cấp cứu. Thủ tục nhập viện xong xuôi, chóng vánh nhờ uy tín người lính dù, vừa kịp lúc đưa em bé gái lên bàn mổ. Một mạng người được cứu thoát. Niềm vui chưa tắt, nỗi lo chợt đến. Bỏ lại mẹ con đứa bé đau ruột thừa tại bệnh viện, với đôi lời an ủi, chiếc xe quay đầu. Đã choạng vạng tối. Đoạn đường trở về đơn vị hai mươi cây số là một bẫy tử thần.

Còn đêm nay nữa thôi, mai đã có mặt ở Sài Gòn. Lần này Vũ quyết định theo ý Thuỵ Nhung đưa bố mẹ đến nhà cô cho hai ông bà nói chuyện với nhau chính thức xin đính hôn. Chim có tổ, Thụy Nhung sẽ vui. Giang hồ mỏi cánh, mình bớt ngang bướng, sẽ kể cho Nhung nghe mình đã quên đi địa ngục, sẽ cho cô biết mình tìm được dấu chân địa đàng. Không phải ở đây, nơi núi rừng âm u lửa hận đạn thù, nhưng anh đã tìm gặp ngay ở bên em, trên mắt môi em, trên bờ tóc xõa, trên cánh vai gầy. Địa đàng của anh chẳng ở đâu xa. Ngay trong lòng em, trong tình yêu chúng mình.

Bỗng có tiếng súng nổ vang ở phía sau. Người tài xế tống mạnh chân ga mong nuốt đoạn đường. Trời tối đã lâu. Bóng cây che khuất mặt đường làm khung cảnh thêm ghê rợn. Thêm một tràng tiếng súng ngay trước mặt. Chiếc xe chậm lại. Hoàng la lớn:

– Dính chấu rồi! Lọt ngay giữa ổ phục kích. Chúng muốn diệt gọn bọn mình.

Bác sĩ Trân lên tiếng:

– Cố thủ tại đây. Điện đàm gọi anh em còn ở trong làng lên giải toả.

– Không kịp – Vũ nói – nhanh lắm cũng mất mười phút họ mới đến kịp. Có khi lại bị chúng dương đông kích tây. Tới lúc đó ta đã tiêu tùng. Ngay lúc này mình phải mở đường máu, lăn vào chỗ chết tìm đường sống. Tụi nó chắc chắn có một ổ ngay sát vệ đường, chờ xe mình qua nó cho nổ vài trái. Bây giờ Hoàng với tao đi xuống. Còn hai người cùng ông Trân và tài xế ở lại giữ xe. Mình phản công tức thì chúng sẽ không ngờ. Khi nghe tiếng nổ cho xe vượt tới nhanh, chúng tôi sẽ bám theo nhảy lên.

Vũ và Hoàng xách súng bước xuống. Trong bóng tối lờ mờ, hai người đeo sát các hàng cây tiến lên phía trước. Vũ nói nhỏ vào tai Hoàng:

– Tổ kích tụi nó ở mé bên trái, tao đã thấy đóm lửa loé ra từ đó. Hoàng mày bọc hậu, che cho tao. Tao đi trước tặng hai quả cho chúng câm lại. Cần tới thật gần để bảo đảm chính xác.

– Được rồi! Mày tiến lên đi. Tao bảo vệ phía sau.

Hoàng dừng lại, nấp vào một thân cây, nòng súng chĩa về phía trước. Vũ nhoài người
bò tới. Như dự đoán của Vũ, tổ chúng dường như có ba tên với một ống phóng B40. Đụng thứ chống tăng này, đừng nói thân người, chiếc xe cứu thương cũng tan như xác pháo. Đã vừa tầm tay, Vũ rút chốt trái lựu đạn. Trời về đêm se lạnh, nhưng sự căng thẳng làm Vũ toát mồ hôi hột ướt đẫm vai.

Trái đạn vừa ném đi thì một tên trong bọn quay mặt lại thấy Vũ. Dường như hắn nghe thấy tiếng động lạ khi Vũ kéo chốt. Hốt hoảng, hắn ria một tràng AK về phía Vũ. Anh nghe thấy tiếng nổ với những thân hình bắn tung lên. Đồng thời có một vật gì đâm mạnh vào người. Anh đưa tay lên ngực, máu lan ra thấm tay nhầy nhụa. Vũ khuỵu xuống. Đằng sau có tiếng Hoàng:

– Tuyệt! Chúng đi rồi, Vũ ơi! Mày có sao không?

Thấy Vũ đổ xuống, Hoàng chạy lại, nhưng Vũ khoác tay:

– Đi đi, Hoàng. Tao bị rồi. Mau lên kẻo không kịp.

– Trời! Mày bị thương rồi. Để tao kêu anh em tới đưa mày lên xe.

Tính ngang tàng trong Vũ chợt nổi lên:

– ĐM! Mày có đi không? Hay muốn tao cho một viên vào đầu. Đồ ngu! Chúng nó ở sát phía sau. Cơ hội sống chỉ có ít giây. Chậm trễ là chết chùm cả đám bây giờ.

– Nhưng lòng dạ nào bỏ mày ở lại. Tao sẽ nói gì được với gia đình mày, người yêu của mày.

– Tao bị trúng ngực, không qua khỏi đâu. Mày phải sống để báo tin cho gia đình tao. Nói với Thuỵ Nhung tao không thể về. Gửi lời chào vĩnh biệt anh em. Thôi đi đi. Xe tới rồi kìa! Mau.

Hoàng lau nước mắt chạy lên mặt đường nơi chiếc xe đang trờ tới. Vũ lả người đi. Mắt tối sầm. Đầu óc như đi vào chốn mông lung. Bố mẹ ơi! Tha thứ cho con. Thuỵ Nhung à! Anh đành lỗi hẹn. Địa đàng anh chỉ mới thấy dấu chân chưa tìm được cửa. Trái cấm bây giờ ở quá cao anh với không tới. Anh đã thua. Đã đi lạc vào một chốn khác. Nơi ấy an bình, ngơi nghỉ. Nơi ấy miên viễn, hư không. Chiến tranh nghiệt ngã, cứ gặm nhấm dần những tâm hồn trẻ, cướp đi những sức sống đang tràn trề sinh lực, dở dang những mối tình, cắt chia những liên hệ.

Hình ảnh cứ phai mờ dần. Thuỵ Nhung kìa! Cô trong chiếc khăn cưới sao ủ dột? Sao nó giống khăn tang thế! Đúng rồi! Vành khăn trắng quá. Thuỵ Nhung với khuôn mặt còn quá thơ ngây vụng dại đầy nước mắt.

Nhung khóc ai đây? Cho một người chồng chưa một lần cưới, hai mươi ba tuổi đời, năm tuổi lính, ba màu áo trận, một cuộc tình dở dang. Mình có gì để lại cho Nhung nhỉ? Còn chiếc thẻ bài. Để lại cho em tấm thẻ bài.

Vũ ngã ập xuống khi trong đầu vẫn còn nhạt nhoà mê man trong tiếng nức nở của người ca sĩ:

“Sau cuộc chiến này, còn chi không anh, còn chi không anh, hay chỉ còn lại tấm thẻ bài, đang lạnh lùng trên tay em…”
Phương Duy
Kỷ niệm ngày QLVNCH 19/06/2008

Nhớ về người lính vô danh

Đi về cõi hư không (1)

Tưởng nhớ về V. và những người lính vô danh
ra đi không bao giờ trở lại.


“Tấm thẻ bài, mang dòng máu anh, máu Việt Nam mang tình của mẹ, tình của mẹ…”

Giọng hát liêu trai nức nở của nữ ca sĩ Thanh Thúy vang vang từ chiếc cát sét trong xe phát ra nghe thật trầm buồn, trong ánh nắng chiều vàng vọt chiếu xuống mái hiên nhà. Bên cái bàn nhỏ đặt cạnh, một nhóm người xúm quanh bác sĩ Trân chờ được khám bệnh. Ông buông cái ống nghe ra khỏi ngực người đàn ông nhà quê, quay qua bảo Vũ:

– Cậu chuẩn bị thu dọn dụng cụ, bàn ghế đi. Đã năm giờ hơn rồi. Còn mấy người
nữa, tôi khám xong là mình dọt. Anh em đóng chốt bên ngoài bảo vệ an ninh cũng đang rút dần.

– Được rồi, Trung Uý cứ làm cho xong. – Vũ trả lời – Thằng Hoàng và tôi phân
phát hết mớ thuốc là cho đồ lên xe ngay. Vài phút là xong.

Chiến sĩ vô danh (Biên Hoà, 1966-67)
Nguồn: properproper.com
Vũ chưa dứt câu, bỗng có tiếng ồn ào từ ngoài cổng ngôi trường tiểu học đang được tận dụng làm trạm khám bệnh dã chiến cho người dân ấp Hoà Lạc. Một người đàn bà xuất hiện, trên tay bồng đứa con gái chạc mười ba, bà la khóc chạy bổ vào:

– Xin làm ơn làm phước cứu con tôi, nó đau gì mà kêu la tới mặt mũi xanh xám. Các ông không cứu chắc nó không sống nổi.

Trong lòng mẹ, đứa con gái ôm bụng rên la. Bác sĩ Trân hỏi người đàn bà:

– Con gái bà bị đau bụng? Nó trúng độc hay sao?

– Dạ, tôi không biết. Tự nhiên thấy nó ôm chặt lấy bụng rên la “đau quá má
ơi”. Tôi trăm lạy ngàn lạy các ông cứu giùm con tôi.

Bác sĩ Trân đưa tay rờ lên chỗ bụng đứa bé đang ôm rên rỉ khóc không thành tiếng. Chỗ đau bên trái trương cứng như đá. Đúng nó đang bị đau ruột thừa đến lúc nguy kịch. Tình trạng này bó buộc phải giải phẫu khẩn cấp. Ở đây không đủ phương tiện, cần phải đưa nó đi ngay đến bệnh viện thị xã. Ông Trân vén tay áo nhìn đồng hồ. Trời đã về chiều. Ông hỏi người mẹ :

– Sao không đưa cháu tới sớm, giờ muộn quá rồi!

– Dạ tôi có biết đâu , Hồi sớm mơi nó còn mạnh như trâu. Giờ ở ruộng về mới thấy nó lăn lộn rên la. Nghe bà con nói đang có khám bệnh miễn phí, tôi vội đem nó tới đây. Cơ này thật khổ.

Bác sĩ Trân quay qua Vũ và Hoàng:

– Các cậu tính sao?

– Thật là khó nghĩ. Vũ nói.

Ca này nan giải. Đau ruột thừa. Đứa con gái chắc chết nếu không được đưa đi giải phẫu kịp thời đêm nay. Mấy năm trước ở quê nhà, thằng Hải bạn Vũ cũng bị ca đau y hệt. May mắn cho nó thời đó có một người Mỹ đang công tác tại trạm xá. Anh ta biết ngay sự nguy kịch nên gọi điện trực tiếp về đơn vị của anh. Không đầy mười phút sau, một chiếc trực thăng tới bốc nó về quân y viện.Thằng Hải còn sống nhờ vậy.

Lúc này Mỹ đã rút, quân viện lại bị giảm thiểu, trong cuộc chiến người lính Việt Nam Cộng hòa thiếu thốn đủ mọi thứ, đặc biệt phương tiện vận tải thật khó khăn. Nhưng lương tâm nghề nghiệp của người lính quân y thấy người gặp nạn không thể bỏ qua. Cứu người là nhiệm vụ. Thấy người hấp hối không cứu không phải là thầy thuốc. Chỉ có một trở ngại lớn, đó là trời sắp tối.

Mới ít phút trước, Vũ đã khấp khởi mừng thầm vì đây là chuyến công tác dân vận cuối cùng trước khi di chuyển. Ngày mai đơn vị dù sẽ rút đi. Đã có lệnh cho thuỷ quân lục chiến lên trám chỗ. Trước khi được điều động đến vùng hành quân mới sẽ có ít ngày về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân để bổ sung quân số. Lại sắp được gặp em.

Vũ thở ra một hơi dài. Lần dưỡng quân năm rồi, ghé nhà Hoàng chơi, ngồi tiếp chuyện bố nó. Ông già bảo:

– Hai đứa bay cố trông chừng bảo vệ nhau. Bác coi khí sắc thằng Vũ năm nay không được tốt lắm.Phải hết sức cẩn thận. Tình hình lúc này cứ mỗi ngày mỗi tệ.

Vũ chẳng tin gi ba chuyện tướng số. Tuy vậy, nghe ông già nói cũng hơi nhột. Tình
hình lúc này tệ thật. Ngưng bắn, ký kết hiệp định hoà bình trên giấy tờ nhưng thực tế vi phạm ngưng bắn liên tục, cuộc chiến còn ác liệt hơn. Giành nhau từng tấc đất. Hai đứa thuộc đại đội quân y cứ ngày ngày đi băng bó chữa trị cho những người khác không may bị thương tật, thu lượm những đồng đội ngã xuống từ khắp mọi chiến trường.

Nhiều lúc suy nghĩ, Vũ không sao hiểu nổi tâm tình của những người phía bên kia. Tại sao cũng người Việt, họ lạnh lùng lăn xả lao đầu vào bom đạn, sẵn sàng giết chóc, sẵn sàng căm thù vì được dạy căm thù, sẵn sàng tin tưởng những lý thuyết hoang tưởng và nhai lại như vẹt mà không hiểu cái mình đang nói, việc mình đang làm có là lý tưởng hay không. Một loại lý tưởng mang chiến tranh vào xóm làng chỉ để làm xáo trộn đời sống hiền hoà của người dân.

Còn lũ sinh viên và đám mang danh trí thức tại thành phố được sống an vui êm ấm và ăn học, làm việc tại nhà trong khi những người khác phải hy sinh gian khổ trong rừng sâu nước độc, xa cách gia đình anh em bạn hữu và cận kề với cái chết từng giây từng phút, đã không biết cám ơn còn chuyên đi quậy phá biểu tình, làm lợi cho kẻ thù. Tệ hơn, có những con mắt coi thường khinh khi đối với người lính.

Nghĩ đến những gian nan cực khổ, những mất mát thua thiệt, Vũ thấy lòng chùng xuống chán nản. Ở nhà, nhìn bộ mặt ấy, bố mẹ cũng lo. Ông già khuyên Vũ:

– Này con, bố biết cuộc sống của con đầy rẫy gian lao và vô cùng nguy hiểm. Tuy nhiên, bố cũng phải nhắc để con nhớ, đã một lần can tội đào ngũ, bố mong con nên suy xét trước khi làm bất cứ điều gì để sau này khỏi ân hận.

– Bố cứ yên lòng. Con đã lớn và đủ chín chắn để biết suy nghĩ trước khi hành động. Con chỉ buồn chứ không tuyệt vọng. Có điều, với công việc hàng ngày chứng kiến cảnh bạn bè trai trẻ cứ rơi rụng dần. Đìều này dường như đang trở thành nỗi ám ảnh, đâm ra con đau lòng xót ruột. Công việc của con cận kề với cái chết dưới đủ mọi hình thức, những thương tật, những đau đớn rách da xẻ thịt, những phần cơ thể mất mát mà lòng không héo hắt thì thật vô tình quá. Bố ạ! con là người vẫn có trái tim mà.

* * *


Bố thương Vũ hết mực bởi Vũ có khuôn mặt giống bố thời trai trẻ. Ai cũng nói vậy. Trên tường giữa phòng khách có treo một khung hình khá to, cỡ quyển vở học trò tấm ảnh bán thân của một thanh niên trẻ, đẹp trai, trịnh trọng trong bộ đồ lớn màu xám nhạt, với chiếc cà vạt màu đỏ có những vạch vàng. Mấy đứa bạn đến nhà chơi, nhìn khung hình, vội hỏi:

– Chà! thằng Vũ chụp hình “oách” ghê, cứ như sinh viên “trường thuốc” vậy.

Vũ bảo:

– Bậy nào, đâu phải tao. Hình ông già tao đó. Bộ tụi bay quáng gà hết rồi sao?

Lũ bạn kinh ngạc, không ngờ nó giống bố nó thế. Đâu phải bạn bè mới quen biết, chúng nó chơi với nhau từ nhỏ. Bố Vũ không có mặt ở nhà thường xuyên, nhưng lâu lâu chúng nó cũng gặp. Bây giờ ông có khác đi. Chúng không tin. Bộ thằng này muốn đùa với chúng chắc.

Gặp mẹ Vũ, bọn chúng lại chỉ lên tấm hình hỏi:

– Bác à, đây là thằng Vũ hay bác trai vậy?

Bà cụ cười:

– Ai cũng bảo đây là hình thằng Vũ. Thật ra bố nó đấy. Tấm hình này ông ấy chụp lâu lắm rồi, mãi tận ngoài Hà Nội, dễ đã trên hai mươi năm. Ông quý nó nên giữ gìn rất kỹ, vừa mới mang ra tiệm để sửa lại rồi phóng lớn ra treo lên đó. Chắc ông ấy nghĩ hồi xưa mình ngon lành lắm.

Có lẽ ông bố của Vũ cũng có hơi chút tự hào thật. Nói đúng ra, ông có quyền. Cao
lớn, đẹp trai, tóc mượt mà, sống mũi cao khuôn mặt thon dài ra dáng Tây phương, người Á đông được như vậy cũng đáng kiêu hãnh. Ông không nói ra vì tính ít nói, nhưng trong những câu chuyện rất hiếm hoi của ông với bạn bè trong bàn tiệc về những dĩ vãng xa xưa chứng tỏ điều đó. Ông nói về người bạn tên Thanh của ông:

– Hồi còn nhỏ mấy thằng bạn thân của mình rất ngon lành. Anh nào cũng điển trai ra phết, các cô trong làng cứ chết mệt với bọn tớ. Thế mà thằng Thanh, cái thằng đẹp trai nhất lại hát hay đàn giỏi cuối cùng lại đi lấy cô vợ da chì miệng méo. Thật là dở. Gặp mình thì thà ở vậy.

Tội cho bác Thanh, bác có họ hàng với bên mẹ của Vũ. Bác ấy chết rồi. Còn bác Thanh gái vợ bác quả có hơi méo miệng một chút. Nhưng mẹ bảo là tại bác ấy bị trúng gió sau khi đã lấy chồng. Thời con gái bác cũng xinh, ra đường cánh con trai lẽo đẽo theo sau dai như đỉa. Vũ nghĩ mẹ nói đúng. Dáng dấp của bác Thanh gái dù đã cao tuổi vẫn còn rất thon thả. Nếu không vì cái miệng méo coi kỳ kỳ, khuôn mặt bác cũng thật cân đối có duyên.

Cái giống nhau giữa Vũ và bố chỉ dừng lại ở đó. Tính tình hai người thì một trời một vực. Tuy vậy, ông vẫn thương Vũ nhất nhà. Bố hiền lành, dễ dãi, an phận, kín miệng và có thể nói là hơi nhát. Vũ trái lại gan lì, buông thả, lãng mạn, bướng bỉnh, phiên lưu và thích chơi nổi. Bạn bè cùng trang lứa với Vũ muốn kết bạn phải chịu dưới cơ, còn Vũ chỉ thích đi theo đám đàn anh hơn mình đến bốn năm tuổi. Nhỏ tuổi bị lép vế, hay bị sai vặt nhưng học được khối cái kinh nghiệm hay ho.

Năm mười lăm tuổi, bị mẹ la một trận về tội lười học, Vũ giận hờn xách chiếc Honda bỏ nhà đi chơi mấy ngày đến hết tiền không thèm về nhà. Vũ chạy một mạch đến nhà bà ngoại ở rất xa, gửi xe lại rồi đi đăng lính. Lính Việt Nam Cộng hòa không nơi nào nhận một thằng bé ranh mười lăm tuổi mới nứt mắt đòi đi lính. Biết được vài câu Anh ngữ, Vũ xoay xở kiếm được một bản sao giấy khai sinh của một đứa bạn đã trên mười sáu đi đăng ký biệt kích tại một trại Mỹ. Mẹ bỏ cả công ăn việc làm đi tìm con suốt tuần, đâu cũng không thấy. Mấy hôm sau, ngoại cho người về báo tin Vũ gửi xe nhà ngoại. Mẹ tức tốc đi thăm ngoại để hỏi tin tức. Ngoại bảo nó giấu không cho ai biết đi đâu, nhưng nghe loáng thoáng mấy đứa cháu nói dường như nó đi nhập lính ở trại Mỹ. Mẹ đến trại hỏi thăm, mang theo giấy tờ, thẻ học sinh để tìm con. Đích thị Vũ đã đầu quân vào lực lượng biệt kích Mỹ với một tên giả, giấy giả. Có giấy tờ chứng minh,họ cho bà vào trại để đem con về. Vũ lúc ấy đang nằm bệnh viện vì bị trúng đạn. Người ta trấn an:

– Nó chỉ bị thương nhẹ, vài ba bữa sẽ khỏi. Thằng nhỏ táy máy chơi nghịch với khẩu súng sao để nó bị cướp cò phát nổ.

Cũng may, viên đạn chỉ sướt qua bắp đùi, không chạm xương. Mẹ bớt lo lắng, làm thủ tục giấy tờ bảo lãnh con về. Cũng phải ở lại với ngoại hết mấy ngày, chờ cho Vũ lành lặn. Mẹ thở dài, nó thật lỳ lợm. Mẹ khổ nhiều vì Vũ.

Về nhà, bố nói với mẹ:

– Nghe mấy đứa bạn nó bảo nó chán học ở trường đây, đòi về Thành phố học như thằng anh.

Mẹ bảo:

– Nó lười chảy thây, chỉ kiếm cớ vậy thôi. Thằng anh nó học hành đàng hoàng, thi đậu vào trường công ở Sài Gòn thì nó về đó học. Đâu phải mình lo cho nó hơn thằng Vũ. Nó học hành bê bối đâu có vào được trường công. Học trường tư thì ở gần nhà cho đỡ tốn kém.

Nói vậy nhưng rồi mẹ cũng chiều. cho Vũ lên Sài Gòn đi học. Vũ nghe bạn kể nhà thơ N. Sa mở trường Văn học, vốn thích thơ, yêu nhạc, nên Vũ tìm đến. Kết quả học ít chơi nhiều thành cũng chẳng đi tới đâu.

Vũ có thêm một số bạn mới, toàn một lũ ham vui, suốt ngày tụ họp nhau văn nghệ văn gừng, học đàn học hát. Hơn hai năm trời, chỉ có đôi bàn tay của Vũ thu được ít ngón đàn qua bạn bè chỉ dạy. Các môn học cứ vào tai này lại chui ra tai kia. Cuối niên học đệ nhị, Vũ đi thi phần một rớt cái ạch. Bố mẹ buồn nhiều, tuy cũng cố an ủi: học tài thi phận, còn riêng Vũ chỉ hơi buồn thôi. Đi thi cho có lệ, sự thực Vũ biết kết quả trước khi thi.

Vũ quen Thuỵ Nhung trong một đêm văn nghệ nhà. Người con gái ở vùng đất cao nguyên xứ lạnh tình nồng với mái tóc dài buông xoã ngang lưng đã để lại ấn tượng trong tâm hồn Vũ ngay trong lần gặp đầu tiên. Dưới khuôn mặt trắng hồng và vóc dáng mảnh mai, Thuỵ Nhung có một vẻ đẹp man dại như một bông hoa giữa cánh rừng. Điều đó là một thu hút mạnh mẽ cho Vũ. Anh không thể nào cưỡng lại chuyện làm quen với nàng.

Còn Thuỵ Nhung đến với mình ra sao, Vũ không biết. Chỉ lờ mờ đoán hai người có lẽ chung một đam mê là yêu thơ yêu nhạc. Thuỵ Nhung thích chè. Hai người thường dẫn nhau đi ăn kem lạnh, hoặc một ly chè ba màu xanh đỏ trắng và tâm sự vụn. Đôi khi Vũ đến nhà chơi, ngồi ôm đàn đệm nhè nhẹ cho cô khe khẽ hát một bản tình ca. Phong trào nhạc trẻ lúc này đang thịnh hành nhạc ngoại quốc, lối chơi Phượng Hoàng trở thành hiện tượng, nhưng Thuỵ Nhung vẫn chỉ mặn mà với dòng nhạc êm dịu trữ tình. “Nó hợp với em hơn”, cô bảo.

Thuỵ Nhung hay kể cho Vũ nghe về cuôc sống ở cao nguyên những ngày còn nhỏ. Ngày ấy thật vui. Vườn chè và cánh rừng phía sau là nơi cô thường cùng bạn bè dạo chơi khi rảnh rỗi cuối tuần. Hoà mình vào sự tươi cười của hoa lá, lời réo gọi của nắng gió và nhất là tiếng thì thầm của cây cỏ. Chúng biết nói đấy. Nếu mình chịu lắng nghe sẽ cảm nhận được thiên nhiên, trời đất tràn đầy sinh lực và có những rung cảm như người.

– Thế sao em không ở lại đó, lại di chuyển đến cái thành phố xôn xao chật chội
này? – Vũ trêu cô.

– Tại bom đạn, chiến tranh – Thuỵ Nhung có vẻ buồn – Tất cả đều tan nát, hoang vu. Rừng như trụi lá. Đêm đêm mọi sự trở nên bất ổn. Ba má phải bỏ hết về đây để tạo dựng lại cuộc sống, vì tương lai của gia đình, của lũ con. Biết bao giờ quê hương mình mới có lại được những ngày xanh tươi thanh bình thuở ấy anh nhỉ?

Vũ kéo Thuỵ Nhung sát lại gần. Buổi chiều chầm chậm xuống đang mang đi cái nắng oi ả của Sài Gòn. “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông” (thơ N. Sa). Thuỵ Nhung khe khẽ hát trong cái mát dịu của thành phố sắp về đêm và cái mát lạnh của ly kem. Khuôn mặt hai người thật sát. Những sợi tóc mai của nàng theo gió nhẹ bay trên má trên cổ Vũ làm anh cảm thấy rạo rực. Vũ cúi xuống hôn nhẹ lên môi nàng, chợt cảm thấy vị ngọt lịm (của kem) vẫn còn đọng trên đầu lưỡi. Sau nụ hôn vội vàng, Thuỵ Nhung đỏ mặt quay đi:

– Anh thiệt tình! Lúc nào cũng tham lam. Người ta nhìn kìa!

– Có sao? – Vũ cười – Con trai đàn ông có đứa nào không tham hả em.

Thuỵ Nhung liếc nhìn Vũ nói:

– Vừa thôi ông tướng! Tham quá là không được đâu à nghen. Lúc này em thấy anh có vẻ muốn bắt cá hai tay rồi đó. Anh mà léng phéng với con nhỏ Nguyên là em nghỉ chơi anh luôn.

– Nguyên nào?

– Nhò Nguyên ở trong xóm gần nhà anh đó. Coi bộ nó mết anh rồi, còn làm bộ!

– Coi kìa! Chưa chi đã muốn làm Hoạn Thư phải không? Anh và nhỏ Nguyên thì có liên quan gì? Hàng xóm láng giềng với nhau, thỉnh thoảng cô bé nhờ anh vài chuyện vặt như thay cái cầu chì nhà bị đứt, hoặc coi giùm cái xe không nổ máy. Giúp đỡ nhau là chuyện thường tình.

– Anh khỏi phải biện hộ. Thiếu gì người trong xóm mà nó cứ phải nhờ đến anh? Nhìn cặp mắt của nó mỗi khi thấy anh, ai cũng biết nó muốn gì mà.

– Thôi, bỏ chuyện đó đi. Em biết quả tim của anh đang nằm chỗ nào rồi mà. Vả lại, lỡ có ai đó ngoài em muốn thương anh, mình đâu cấm cản được. Có chuyện này quan trọng hơn muốn nói với em: có lẽ mình sắp xa nhau một thời gian, anh sắp nhập ngũ.

(Còn tiếp…)

Truyện tù cải tạo

Lặn lội đường xa


Vào truyện – Trên khu cải tạo Bù Gia Mập có một con đường đất đỏ dài trên dưới hai mươi cây số, chạy dài từ khu kinh tế mới Minh Hưng, quận Bù Đăng, đi vào sóc Bombo,vòng qua Đức Hạnh, Bù Đốp. Con đường được thiết lập từ thời Đệ Nhất cộng Hoà của Chính Phủ Ngô Đình Diệm với dự tính khẩn hoang lập ấp, thành lập các khu dinh điền, vừa để chế ngự một an toàn khu của phe Cộng Sản VN. Kế hoạch đã bị bỏ dở sau sự sụp đổ nền Đệ nhất Cộng Hoà. Con đường bị bỏ hoang. Nhiều đoạn, cây rừng mọc lan ra che phủ hết,đi dưới đường nhìn lên không thấy bầu trời.. Con đường nắng lên đầy bụi đỏ, mưa xuống lại lầy lội trơn trợt. Đàn bà con gái lặn lội thăm con thăm chồng, tất cả đều phải ba lô trên vai, dép guốc cầm tay mới ráng lết đi được... Trong truyện ngắn này, người viết xin ghi lại một vài hình ảnh nhỏ bé như một lời tri ân của đứa con đến các bà mẹ, lòng biết ơn của người chồng đến các bà vợ Việt Nam tuyệt vời, một đời vất vả hy sinh cho người thân yêu của họ trong khoảng thời gian cùng quẫn khó khăn nhất của xã hội miền Nam.
X X X
Nhận được thư của Thoại gửi về qua tay chị Trang, chị mới đi thăm chồng về, Giang cảm thấy lo lắng. Nói là lá thư cho có vẻ trang trọng. Thực ra, đó chỉ là một mảnh giấy nhỏ nhàu nát. Trong thư, Thoại thăm hỏi gia đình và mẹ con nàng vài câu, thêm vài câu vắn tắt cho biết anh đang bệnh nhiều, cần thuốc thang chữa trị. Thời buổi khó khăn, tìm kiếm cái ăn cho hai mẹ con đã thật vất vả. Mà cả nước đều thế, chứ đâu riêng gì gia đình nàng. Mấy năm trời đi tù cải tạo, Thoại biết hoàn cảnh gia đình không khá, anh chưa bao giờ đòi hỏi xin xỏ gì. Nay tình hình chắc phải tồi tệ lắm mới có chuyện viết thư nhắn gửi như vầy. Vậy nàng phải thu xếp lên rừng một chuyến. Không đi, lỡ chồng có mệnh hệ gì, có lẽ sẽ ân hận suốt đời. Công việc làm ăn của Giang bây giờ càng lúc càng khó khăn. Ngành may mặc lúc trước gia công cón có đồng ra đồng vào. Kể từ khi bị buộc vào tổ hợp, rồi tiến lên hợp tác xã, chỉ còn đồng lương cố định chết đói hàng tháng cộng với ít tem phiếu mua gạo hẩm, nước mắm thối. Dạo sau này, đến gạo hẩm cũng không còn. Tháng tháng mang tem sổ đến chỉ mua được khi thì ít mì sợi, lúc vài ký bo bo loại thực phẩm cho ngựa ăn. Nhà nước gọi nó là cao lương, nhưng nuốt vào miệng thế nào thì ỉa ra nguyện hột thế ấy. Vậy mà có khi cũng không có, phải nhận mớ ngô vàng cứng như đá hoặc bao củ lang củ sắn (khoai mì) hư thối hơn nửa. Thời những năm bốn mươi lăm, nghe nói miền Bắc người chết đói hàng loạt, nhưng hồi ấy nàng chưa sinh ra nên chẳng biết. Còn lớn lên ở cái miền Nam nhiều lúa lắm gạo này, nàng chưa thấy có thời kỳ nào thế thảm như vậy. Lại còn cái vụ phải xin phép nghỉ vài ngày để đi thăm chồng. Rắc rối chứ đâu có đơn giản. Có nên về nhờ vả bố mẹ tí chút nào không? Cả hai bên bố mẹ đều đã già, ruộng vườn co cóp mấy chục năm đã bị tịch thu hết ngay từ những ngày đầu xã hội chủ nghĩa. Số còn lại giờ cũng phải vào tập đoàn làm ăn tập thể, chả còn gì mà trông mong. Lấy gì để mua sắm lên thăm Thoại đây? Giang đành ngó quanh quất trong nhà coi có gì còn tí chút giá trị, có thể tải được ra chợ. Của đi thay người, nàng ngẫm nghĩ. Cái khánh vàng với bốn chữ Trăm Năm Hạnh Phúc lớn có con rồng và con phượng bao quanh thật lộng lẫy. Quà cưới của bạn bè tặng Thoại ngày xưa, dễ có được vài chỉ, đem bán đi chắc Thoại buồn, nàng cũng buồn. Nhưng thời buổi, cái khó bó cái khôn. Túng phải tính cứ biết làm sao? Giang ngậm ngùi lôi nó ra khỏi cái khung kiếng. Kể từ ngày “giải phóng”, số phận nó cũng giống như Thoại, phải chui vào nằm trong một xó kín trong nhà, không được ngồi trong tủ chè nữa. Chưng ra cho chúng nó dòm ngó, có mà chết. Hôm nay trong lúc túng cùng, thôi thì vĩnh. biệt. Giang gói nó lại bỏ vào giỏ rồi đem ra chợ. Vấn đề tài chánh coi như giải quyết xong. Không phải cầu cứu tới ai, nhưng cũng nên cho bố mẹ Thoại biết một tiếng. Thoại đang đau ốm cần giúp đỡ. Bố Thoại có nghề y tá dạo, ông biết về thuốc men, thế nào chả có chút đỉnh cho con, còn mẹ ít nhất cũng có ít thức ăn cây nhà lá vườn cho con trai bà sống cầm cự qua ngày. Tiện thể, nàng kéo thằng Quốc, em trai nàng đi theo. Nó còn trẻ, mạnh khoẻ nhanh nhẹn đỡ đần tay chân chút ít bớt vất vả. Kinh nghiệm của kỳ đi thăm nuôi lần trước vẫn còn nguyên trong trí. Dạo ấy Giang đi cùng mẹ chồng, may mắn liên lạc được ít gia đình rủ cùng đi chung, nương tựa, giúp đỡ khuyến khích nhau. Nếu không chắc đã bỏ về nửa đường. Xe đò từ Sài Gòn đi Phước Long, tới ngã tư Minh Hưng là điểm dừng cuối. Từ đây không còn xe chở khách, ngoại trừ xe bộ đội. Nhưng xe của “quân đội nhân dân” thường ít khi cho nhân dân đi quá giang. Có lẽ có muốn cũng không còn chỗ, vì hàng ngày chả có mấy chuyến. Và chuyến nào trên xe cũng thường đầy ắp. Tới Minh Hưng trời đã xế chiếu. Muốn vào tới các trại cải tạo lao động ở trong rừng còn phải cuốc bộ rất xa theo con đường Mười. Trại của Thoại ở gần nhất cũng cách trên mười cây số. Tay xách nách mang, có gia đình còn mang theo con nhỏ không biết làm sao để đi. Cuối cùng phải nhờ vả đến người dân địa phương, những người trong vùng kinh tế mới. Họ rành rẽ đường đi nước bước. Họ, có lẽ, trước đây cũng từ các thành phố đến, nhưng sau một thời gian cực khổ, đã quen lam lũ. Vả lại, đó là cơ hội cho họ kiếm thêm được ít đồng tiền đã trở nên rất hiếm hoi quý giá trên rừng này. Trẻ nhỏ thì dẫn đường. Người lớn thì nhận chuyên chở giùm hành lý. Họ chịu hy sinh nhiều giờ để vừa giúp đỡ vừa có thêm phần phụ giúp gia đình. Giá cả thỏa thuận xong. Có gia đình cả nhà cùng đi làm hướng dẫn viên một loạt. Đoàn người bắt đầu cất bước từ lúc xế chiều, khi nắng còn đổ gay gắt. Thi thoảng, một chiếc molotova chạy ngang làm tung bụi đỏ mịt mù. Cứ cách quãng dăm bảy trăm thước, đoàn người phải dừng lại nghỉ. Đến được láng trại đầu tiên thì trời đã tối mịt. Mọi người mệt mỏi rã rời. Đoạn đường chỉ hơn mười cây số mà đi tới gần năm tiếng. Đã vậy, khi còn choạng vạng trời lại đổ ập cơm mưa. Đường đồi lên xuống đã gập ghềnh, bây giờ thành trơn như bôi mỡ. Người đi thăm nuôi toàn là đàn bà con gái chưa quen với những con đường đất trơn trợt, guốc dép cởi ra cầm trên tay mà vẫn té lên ngã xuống, thật khổ ải. Ba lô trĩu nặng bờ vai nhỏ, Mưa lạnh đường trơn, chân đất vương Lặn lội thân cò pha nắng bụi, Đường xa lặng lẽ đến thăm chồng. Lần này, chuyến đi đột xuất, không có ai cùng đi, Giang nghĩ mình nên chuẩn bị kỹ lưỡng. Nàng về quê mang theo lá thư của Thoại cho bố mẹ đọc, cũng may quê Thoại gần thành phố, chỉ chừng hơn tiếng đồng hồ đi xe đò, có thể đi về trong ngày. Gần như dự đoán của Giang, Bố Thoại biết tình trạng sức khoẻ của con, có dự trữ sẵn mớ thuốc Thoại cần, nàng sẽ mua thêm. Ông gửi kèm theo mấy hộp sữa đặc, một mặt hàng khá hiếm lúc này, cho con trai bổi dưỡng. Bà mẹ thì chuẩn bị một ít ruốc, một hộp mỡ, đậu phộng cây nhà lá vườn. Bà còn bảo mang theo ít cây trái trong vườn. Giang bảo mẹ chồng: - Mẹ đã thấy rồi. Đường xá đi lại rất khó khăn, Con đâu thể mang vác nhiều. - Thì cũng phải có gì cho nó chứ. Chả lẽ lên thăm nuôi chồng tay không. - Bây giờ thế này. Mẹ biết gia đình con, con cái còn nhỏ dại, đời sống cũng khó khăn lắm. Bố mẹ bây giờ già quá rồi. Thời buổi này chẳng làm gì ra tiền. Thằng Thoại cũng cần chút ít phòng thân. Mẹ không có tiền cho, con cố mang ít quà của mẹ. Phần mày không cần mua sắm nữa, ráng chạy vạy dấm duí cho nó vài đồng. Bà nói mãi. Giang đành chấp nhận mang theo quà của mẹ, ngoại trừ trái cây hoa quả quá nặng nề. Nhưng bà bắt buộc cầm đi mấy cân bột, đậu xanh và ít đường thẻ. Bà bảo trong tù chúng nó thiếu thốn nên thèm ngọt. Nhà có sẵn, ráng mang đi cho bạn bè anh em nó có dịp “liên hoan”. Thằng Quốc đang lúc rảnh rỗi, cũng sẵn sàng lên rừng. Có nó đi theo giúp đỡ, Giang quyết định cho con đi cùng. Thằng Xuân chưa đầy ba tuổi nhưng lanh và ngoan, có thể yê n tâm. Nên cho nó biết mặt bố. Kỳ trước lên rừng, nó chưa được đi vì nàng chưa biết rõ đường đi nước bước. Bây giờ đã có kinh nghiệm, thêm thằng Quốc bên cạnh. thêm tay thêm chân. Thoại chỉ mới gặp con một lần ở Trảng Lớn. Lúc ấy, thằng Xuân mới mấy tháng chưa biết gì. Hai cái ba lô đã chất cứng, đồ đạc bên ngoài vẫn còn nhiều, không biết nhét vào đâu. Thứ nào nàng cũng thấy cần cho chồng. Quà cáp của bố mẹ và thuốc men tối cần thiết không thể thiếu, dầu ăn, bột ngọt,tôm khô mặt hàng tồn trữ chiến lược không thể bỏ lại. Còn mấy gói thuốc lá và bánh thuốc lào này thì tính sao? Giang thấy dạo sau này Thoại ngày càng ốm yếu, ho hen luôn miệng, muốn khuyên chàng bỏ hút thuốc đi mà biết nói như thế nào? Rừng núi khí hậu thời tiết lạnh lẽo, thân phận người tù, xa vắng gia đình, cha mẹ vợ con đã nhiều năm, rượu chè đã không có, chỉ còn làn khói thuốc cho ấm lòng, vơi đi nỗi nhớ nhung gia đình. Bỏ thì thương, vương thì tội. Vả lại, không có thuốc lào thuốc lá thật thì họ lại đi hút vớ vẩn những lá cây rừng độc hại thì còn nguy hiểm hơn. Thoại đã chẳng từng kể anh và các bạn tù đã dùng xác bã trà làm thuốc hút đó ư? Trà khô được pha uống đến khi nước pha trắng gần như nước lã mới đem phơi khô, tẩm vào nước điếu đen thui để thành thuốc hút, chẳng ngon thì, “không mỡ xài đỡ đèn cầy”, cũng tạm ấm lòng “ngục sĩ trong khi vắng nhà”. Xong được mấy món đồ lại lo chuyện giấy tờ. Việc làm trong tổ hợp và đơn nghỉ phép đã có Thu lo giùm. Con nhỏ bạn gái chưa chồng, còn thong thả nên giúp bạn nhiệt tâm. Còn lại cái giấy phép đi đường từ mấy ông ‘kẹ’ ngoài phường là khá rắc rối. Ai đời cả năm mới xin phép đi thăm nuôi chồng một, hai lần mà y như rằng, cứ thấy nàng ló mặt ra tới là chúng hạnh hoẹ đủ thứ. Nào là mọi việc đã có nhà nước lo, cô không phải lo, phải để cho chồng yên tâm học tập mới có kết quả, cứ thậm thụt lên xuống thăm nuôi thế thì làm sao tiến bộ? Nào là đi hoài như thế mất bao nhiêu công lao động. Ai cũng như cô thì còn ai xây dựng đất nước? Lần nào cũng phải đấm mõm cho bọn chúng, khi thì vài gói Samít, lúc dăm bao trà Thái Đức chúng mới chịu cấp giấy cho, còn ra giọng nhân nghĩa: - Nể lắm mới ký cho đó. Mấy phường khác thì còn lâu nghe chửa… Ra khỏi cánh cổng ủy ban, nàng còn nghe tiếng cười đểu của bọn chúng: - ĐM lũ nguỵ quân Sài Gòn Chúng nó ăn bơ thừa sữa cặn của đế quốc quá nhiều. Hèn chi vợ con chúng đứa nào cũng trắng da dài tóc. Từ nay cho chúng bay chết cả nút… Xong xuôi giấy tờ, Giang chuẩn bị đi ngay. Nàng cùng em và con ra bến xe thật sớm. Thời buổi này, cái gì cũng của dân, do dân làm chủ, nhưng chủ chỉ đuợc phép ngó, không được phép rờ. Phải ưu tiên cho đầy tớ của dân là cán bộ, bộ đội. Bỏ tiền ra mua vé xe cũng ưu tiên cho cán bộ, thừa ra mới tới dân. Không sao, Giang biết cách xoay xở. Chỉ cần bỏ ra ít tiền lẻ cho người bán dạo hàng quanh bến xe là có vé chợ đen. Bọn cửa hàng thông đồng với đám viên chức cán bộ lợi dụng sự ưu tiên để mua giành hết vé, đem tuồn ra ngoài kiếm lời chia nhau, thành ra dân có chầu chực ba bốn ngày liền cũng chưa chắc có vé. Chuyện đểu cáng thế nhưng lúc nào bọn chúng cũng giả bộ liêm chính, miệng lưỡi toàn là đạo đức cách mạng. Rặt một bọn vô liêm sỉ. Chiếc xe khách dồn người nêm như cối, không còn chỗ cựa. Hành khách leo lên ngồi cả trên mui, mừng vì may mắn có được một chỗ. Chị em Giang và con bị nhét vào giữa lòng xe nên không nhìn thấy quang cảnh bên đường. Của đáng tội, sau vài năm “giải phóng”, đất nước rặt một màu xám tro. Có còn gì khác để mà nhìn ngắm. Đâu đâu cũng một cảnh nhà cửa điêu tàn, cây cối xác xơ.



Càng đi xa Sài Gòn càng thấy sự hoang sơ tiêu điều của những vùng được mệnh danh là vùng kinh tế mới. Thật là thành quả. Giang nghĩ: hoa hôi kết thành quả đắng. Chiếc xe cũ kỹ già nua, bò ì ạch, thở hổn hển. Mãi rồi cũng lết được tới khu kinh tế mới Minh Hưng, điểm đến cuối cùng khi mặt trời đã bắt đầu ngả về Tây. Xuống xe, Giang cùng em và con bước vào một quán nước bên đường. Nỗi lo lắng bắt đầu dâng lên. Khi còn ở nhà, vì hăm hở muốn gặp chồng để biết đau ốm ra sao, phần vì những lo âu khác, nàng quên đi cái khó khăn này: đường còn xa, phương tiện chuyên chở không có, phải xoay xở ra sao? Phải ngủ trọ lại một đêm rồi sáng mai lên đường? Vùng này kiếm ra một chỗ trọ cho ba người không dễ. Thằng Quốc liều mạng bàn là cứ đi, mười giờ đêm đến là cùng chứ gì?
Thấy được nỗi khó khăn của người đàn bà trẻ, người chủ quán thương hại: - Để tôi hỏi thằng con trai tôi coi nó chịu dẫn đường giúp không? Nó vẫn hay giúp đỡ bà con mình ở thành phố lên. Có nó quen đường quen xá ở xó rừng này mới đi được. Tội nghiệp thằng nhỏ. Lâu nay chịu cực chịu khổ đã quen. Có hôm nó phải đi suốt đêm, gần sáng mới về tới nhà. Giang mừng rỡ theo chủ nhà đi điều đình với người con. Giá cả thoả thuận xong xuôi, họ ăn uống qua loa rồi chuẩn bị lên đường ngay. Cậu con trai dẫn đường cùng Quốc mỗi người một ba lô, còn Giang bế con. Thỉnh thoảng mỏi tay lại cho thằng Xuân xuống đi bộ. Chỉ mới hơn năm giờ chiều mà trời đã choạng vạng. Ở rừng trời mau tối, người ta bảo vậy. Nàng rất mệt mà vẫn không dám nghỉ nhiều, con đường như dài vô tận. Hai chị em lúc này luân phiên thay đổi, khi thì đeo ba lô, khi bồng thằng Xuân. Nàng hơi hối hận đã mang con theo. Hai tay mỏi rã rời, hai chân như buộc chì không cất lên nổi. Đoạn đường, theo cậu dẫn đường chưa được phần ba. Trời đã thẫm màu. Cậu dẫn đường đi chặt nứa làm đuốc. Kinh nghiệm đi rừng, lúc nào cũng phải có dao trên tay, cậu bảo thế. Đêm đã về,thằng Xuân sợ hãi không rời mẹ ra nữa. May mắn có một chiếc xe chạy ngang. Chiếc xe quân đội trên sư (đoàn) đi công tác bị hư dọc đường, khách đã chuyển qua xe khác về trước. Bây giờ xe mới sửa chữa xong quay về. Chiếc xe trống rổng dừng lại cho quá giang. Người bộ đội lái xe còn đủ tình người để thông cảm cho đám người bơ vơ giữa rừng đêm. Giang cám ơn và trả tiền cho cậu bé dẫn đường để cậu quay về nhà, còn ba người leo lên xe. Đến trại cải tạo Thoại đang ở, trời đã hoàn toàn tối mịt, sương đêm rơi xuống ướt lạnh bờ vai, người lái xe dừng lại cho ba người xuống. Giang không quên lục tìm gói thuốc thơm biếu, cám ơn anh đã giúp đỡ. Người bộ đội cười nói không có chi, chúc gặp người thân vui vẻ rồi từ giã phóng xe đi. Anh về sư, còn phải đi thêm một quãng nữa. Giang nhìn quanh. Bên tay phải ngay chỗ xuống xe, mấy dãy nhà lợp tôn. Là bộ phận khung (khung=ban chỉ huy một trại cải tạo thường cấp tiểu đoàn). Những tấm tôn mà kỳ thăm nuôi trước, Thoại đã kể cho nàng nghe: đó là những tấm tôn vấy máu anh em cải tạo. Số là khi còn ở tại trại tập trung cải tạo Trảng Lớn, trại tù này trước đây do sư đoàn 25 bộ binh Mỹ thiết lập, sau năm 1972, họ rút về nước đã trao lại cho sư đoàn 25 bộ binh quân lực VNCH sử dụng làm căn cứ. Sau tháng Tư 1975, quân chính quy Bắc Việt tiếp thu đã sử dụng làm một trong những trại tập trung cải tạo Sĩ Quan Miền Nam VN trình diện tại Sài Gòn và vùng phụ cận. Gần hai năm trời tại trại với rất nhiều biến chuyển, những ông cai tù, người từ phía bên kia nhìn thấy cảnh ‘phồn vinh giả tạo’ của miền Nam đã có rất nhiều sáng tạo. Khởi đầu là phong trào “tam đê” gồm có đài, đồng, đạp. Mỗi người phấn đấu để có một xe đạp làm chân, một đồng hồ trên tay và cái đài trên vai. Đó là thế hệ xã hội chủ nghĩa nhuốm màu tư bản sơ khởi. Khi phong trào đã lắng dịu thì đến chiến dịch “bốn vê”: vào, vơ,vét, về. Sau một thời gian vơ vét hết mọi thứ, kể cả những mảnh vụn kim khí từ những chiếc trực thăng, mang về cho một lực lượng lao động”chùa” khổng lồ, đám sĩ quan tù cải tạo giũa gọt, vẽ khắc, đánh bóng, làm thành những món quà quý giá như gương lược, kẹp trâm, những bộ điếu cày chạm trổ tinh vi. Đến cả những tấm ghi sắt lót làm sân bay cũng được gỡ sạch để phục vụ cho các “anh hùng cách mạng.” Khi không còn gì để vơ vét, đêm nằm vắt trán suy nghĩ, nhìn lên nóc nhà họ thấy toàn là tôn. Hướng mắt về phía cửa sổ, bên ngoài là những bãi mìn phòng thủ nằm giữa những lớp kẽm gai, cỏ tranh mọc tốt cao quá đầu người. Lại suy nghĩ. Cỏ tranh này miền Bắc có lợp nhà thật tốt. Ở đây bọn Mỹ Nguỵ toàn lợp mái bằng tôn. Giời ơi! Nghĩ ra rồi, của ở trên đầu này chứ còn ở đâu nữa. Trong đầu của người cán bộ, những tấm tôn đã biến thành những hòm lớn hòm nhỏ, mai này đi phép mang về nhà thì quý vô cùng, tiện lợi lại bền hơn gỗ. Miền Bắc hiếm tôn thì chắc chắn có giá. Đúng là sáng tạo. Cụ Mác cụ Lê nói thì chẳng sai. Cám ơn các cụ. Nhờ tư tưởng của các cụ đã soi sáng cho đàn cháu biết tư duy. Bộ phận khung nhất trí soạn thảo kế hoạch. Chỉ tiêu được đề ra: thi đua lao động lập thành tích mừng sinh nhật ‘Bác’. Quyết tâm đạt được mười ngàn bó tranh. Sau khi đã cắt hết tranh phía trong trại, kể cả quanh sân bay cũng chỉ được một phần ba, bộ phận cho lệnh tiến công ra ngoài rào, tức đi vào khu vực có gài mìn bẫy. Tranh tai đây cao và rất dầy. Cắt được hết thì không phải tới mười nghìn, mà có thể năm bẩy chục nghìn cũng có dư. Còn mìn bẫy thì sao? Có người hỏi. Dễ lắm, thủ trưởng nói: bảo đám tù cẩn thận, vừa cắt tranh vừa để mắt cảnh giác một tí có sao. Chính trị viên tiểu đoàn còn mạnh miệng hơn: Bọn nguỵ quân nguỵ quyền tội ác ngập đầu, được tha chết đã may mắn nhiều. Chúng mình ngày trước còn gian lao nguy hiểm gấp vạn lần ấy. Rồi có sao đâu. Thôi. cứ thế mà làm. Lên giao ban nhận lệnh từ khung, anh em tù giật nẩy mình. Vài người đi vào bãi có sơ đồ, có dụng cụ dò mìn còn lo lắng, huống chi hàng mấy trăm con người hỗn độn đi vào lao động trong một vùng cỏ dầy chi chit che kín hết các dấu hiệu mìn bẫy, lẫn vào cỏ không nhìn thấy nhau, chết là chắc. Lệnh trên đưa ra không thể không thi hành, bị ghép vào tội nổi loạn, chống lại cách mạng tập thể cũng chết. Thi hành thì. Mọi người vô cùng lo lắng, cầu trời khấn phật sao cho tai hoạ không xảy đến cho mình. Thật ích kỷ nhưng trước một cái chết vô lý chắc chắn biết nói gì? Hậu quả của buổi sáng lao động hôm ấy thật kinh hồn: chỉ sau hai giờ làm việc, một tiếng nổ long trời lở đất, tám mạng người ra đi, không ai trong số còn nguyện vẹn thi thể. Sự sợ hãi lên đến cao độ khi nhận lệnh đi thu nhặt xác bạn bè tử nạn. Cũng may tiếng nổ làm quang đi vùng cỏ chung quanh. Buổi lao động được hủy bỏ. Sau ít ngày nghỉ ngơi cho công tác chôn cất những người xấu số, người sống sót lấy lại tinh thần, cán bộ khung vẫn tiến hành kế hoạch với một phương thức khác an toàn và nhân đạo hơn. Họ dùng xe chở đán người tù cải tạo đi về phía Cà Tum,Núi Bà. Ở vùng này có rất nhiều đồi tranh, xa xôi, tốn kém xăng dầu nhưng đỡ tốn máu.
Bạn tù cải tạo (ảnh minh hoạ)
Nguồn: Journey from the Fall/Ham Tran
Dù mở miệng ra là nêu cao chuyên chính vô sản, ca tụng sự tốt đẹp cũa con người xã hội chủ nghĩa, bản năng tham tư của cán bộ bộ đội ngày càng phát triển mạnh hơn. Càng ở lâu thì càng tham. Khi có lệnh chuyển trại lên rừng, các doanh trại được giao lại cho đơn vị khác, số tranh chưa cắt đủ thay thế tôn, nhưng tôn vẫn được tháo gỡ xuống hết để mang theo. Số tranh có sẵn được giàn trải ra thật mỏng cho đủ che kín mái. Vì vậy, khi hoàn thành, ở trong nhà không khác chi ở ngoài trời.
Khi đơn vị mới tới, làm sao họ ở? Có anh ngứa miệng hỏi. Đó là việc của họ, cán bộ trả lời, dĩ nhiên, họ lại sáng tạo, lao động vinh quang là ở chỗ này. Tôn mang lên rừng để lợp mái cho bộ phận khung, để gò thành hòm lớn hòm nhỏ cho cán bộ. Làm nhà cho khung xong mới tranh thủ dựng trại cho anh em. Lại sáng tạo. Không có cỏ tranh, nhưng rừng có đầy tre nứa, lồ ô. Đốn tre đốn gỗ về dựng nhà, mái và vách lợp bằng nứa đập dập đan vào nhau thành những tấm phên. Đó là cảnh những ngày đầu mới lên rừng lao động. Thoại đã kể cho nàng nghe như thế. Nàng đã ngậm ngùi thương cảm những người bất hạnh và gia đình của họ. Những người thân mãi mãi không bao giờ trở về chỉ vì những tấm tôn chẳng đáng giá là bao. Giờ sau vài mùa mưa nắng, những tấm tôn lợp trên khung đã bắt đầu han rỉ, trông như một chứng tích đẫm máu của tám người bạn tù nằm xuống trên đất Trảng năm nào. Giang bước vào dãy nhà lợp tôn được gọi là bộ phận khung, hay ban chỉ huy trại để trình giấy tờ xin thăm nuôi đột xuất. Được biết thật bất ngờ là hầu hết anh em tù cải tạo đã có nhiệm vụ mới, được chuyển đến một vị trí sâu hơn phía trong cho công tác chuẩn bị xây dựng một nhà máy làm bột củ sắn (khoai mì) lớn nhất Động Nam Á Châu. Họ đã di chuyển cách đây hai ngày, chỉ còn một số ít anh em ở lại phụ giúp tháo gỡ (lại tháo gỡ) bộ phận khung mang đến vị trí mới. Hoàn tất xong sẽ đi sau. Họ cho phép gia đình nàng tạm trú ngụ trong khu nhà thăm nuôi gọi là nhà khách, đồng thời khuyến cáo hôm sau nên quay trờ về vì đợt thăm nuôi chính thức chưa đến. Thật đau lòng biết bao. Chịu đựng đũ mọi gian khổ cốt để gặp chồng lại không toại nguyện. Giang ôm con vào lòng mà khóc. Có lẽ trời còn thương. Một số anh em cải tạo còn ở lại thấy khu nhà khách có ánh lửa thì họ mò đến. May mắn hơn nữa, trong đó có Quang, người bạn lính cùng đơn vị với Thoại ngày xưa. Chính hai người đã cùng nhau đi trình diện cải tạo, do đó đang ở tù chung một trại. Quang sắp xếp chỗ ăn ở cho gia đình nàng. Cơm nước của tù chẳng có gì, ít bo bo và củ mì ăn với nước muối và lá tàu bay. Giang đem con xuống dòng suối rửa ráy qua loa. Nước suối lạnh như nước đá, dù bụi bám đầy người cũng chẳng tắm rửa nổi. Thấy bọn Quang loay hoay với nồi sắn luộc, nàng bảo Quốc lấy trong ba lô ra con gà rán sẵn thơm phức, gói xôi đậu xanh cùng ít bánh nếp mẹ chồng làm, bà biết Thoại thích bánh này của mẹ. - Mời anh Quang, các anh đến dùng cơm với chúng em. - Thôi chị ạ! Gia đình chị cứ tự nhiên đi, Quang nói. Tụi tui kham khổ quen rồi. Với lại, để phần cho thằng Thoại nữa chứ. Vợ con lên thăm mà không có gì nó buồn chết. - Đừng ngại các anh ạ! Các thứ này Giang mang theo để dùng trong ngày thôi. Đến mai sẽ thiu thối hết. Các anh ăn thì cũng như anh Thoại thôi. Ảnh không được ăn là tại số ảnh xui không có mặt hôm nay. Vả lại, em có ít thuốc men và đồ khô, không gặp được chồng thì có lẽ phải nhờ mấy anh chuyển đến giùm. Quốc ơi! chị có mang cà phê trong túi, em mang ra pha mời các anh uống đi em. Quang và các bạn không khách sáo nữa. Tất cả cùng ngồi xuống vừa hỏi thăm chuyện thành phố, tin tức bên ngoài, vừa thưởng thức cái bùi của nắm xôi, miếng thịt gà vừa béo vừa thơm. Thích nhất vẫn là hương vị của ly cà phê đen thật đậm kèm theo điếu thuốc thơm ấm cúng. Nước sôi nấu trong hộp qui gô có quai xách, vợt lọc cà phê làm bằng bao cát, vẫn không kém phần thú vị giữa cái lạnh núi rừng. Tin tức vẫn chẳng có gì lạ. “Vũ như Cẫn” Thời gian như ngưng lại. Đời sống khó khăn hơn. Mọi việc ngày càng xấu đi. Quang thấy mẹ con nàng lặn lội thật vất vả mới lên được tới đây mà không gặp đuợc chồng thì quá tội nghiệp. Anh nhất định cùng các bạn bàn cách để hai người gặp gỡ nhau. Họ bàn thảo một hồi. Cuối cùng đi dến quyết định. Ngày mai Quang thức dậy thật sớm, khoảng bốn giờ sáng đi lên trại mới. Đường đất khá xa, đi và về cũng mất hơn ba giờ. Quang sẽ báo cho Thoại biết có gia đình lên thăm. Trại mới chưa có nhà cửa rào dậu gì, chắc chắn mọi người đang trong công tác chặt cây, lấy gỗ về làm nhà. Quang bảo: - Tao sẽ ráng đi nhanh chân để về sớm trước giờ lao động. Tuy nhiên, lỡ có về muộn chút đỉnh thì tụi bay tìm cách bao che. Được rồi, chị Giang chuẩn bị ngay một mớ đồ dùng vào ba lô tôi mang đi trước cho Thoại. Riêng chi sau tám giờ lên khung xin lấy lại giấy tờ, cho họ biết không gặp được chồng, chị quay trở về nghe không? Nhớ làm sao đừng để họ nghi ngờ và đoán biết kế hoạch của chúng ta, lôi thôi lắm. Sau đó chị giả vờ đi ngược trở về phía Minh Hưng. Khi đã đi xa thoát khỏi tầm mắt của họ, tôi sẽ đón chị đi vào rừng, chúng ta dùng lối mòn mà chúng tôi thường đi lao động ở phía sau trại, khoảng chừng hai cây số lại trổ ra con lộ lớn. Tới đây đã khá an toàn.Tôi đưa chị đi thêm một quãng đường nữa rồi quay trở lại. Chị cứ tiếp tục đi tiếp. Trong khi Thoại ở đầu bên kia đi ngược trở lại. Trên đường đi, chị sẽ gặp một trại cũ, anh em cải tạo đã dơì đi, bây giở trở thành một đơn vị sửa chữa công xa. Bộ đội đóng ở đây ít khi hỏi han tới tù cải tạo, dường như họ không có nhiệm vụ với tù. Sát lề đường gần cổng trại này có một quán nước gọi là căng tin. Chủ quán là người dân thường được phép đến làm ăn liên hệ với bộ đội, thỉnh thoảng tiếp cả khách cải tạo nếu ai có dịp đi qua., bộ đội cũng không ngăn cấm. Chị vào quán ngồi uống nước quay mặt ra đường. Ai hỏi chuyện cứ bịa đại là thăm chồng đi nghĩa vụ. Khi nào Thoại đi qua, nó liếc vào quán sẽ thấy chị ngay. Tôi sẽ dặn nó khi đi qua quán, nhìn thấy chị rồi cứ tiếp tục đi thẳng. Chờ cho Thoại đi xa khoảng hơn trăm mét, chị hãy trả tiền rồi ra khỏi quán đi theo. Làm sao để nếu có người ngồi trong quán lúc đó không nghi ngờ. Ở một vườn sắn thật rậm rạp um tùm cách đó khoảng nửa cây số có một cái chòi nhỏ nằm rất sâu bên trong. Cái chòi do bọn tù cải tạo chúng tôi dựng lên tránh mưa nắng khi đi lao động, bây giờ bỏ hoang, có sửa sang lại để làm điểm hẹn bí mật cho những chuyện thăm nuôi đột xuất như vầy. Chòi nằm giữa rẫy nên rất kín đáo. Thoại sẽ đón chị vào đó. Nhớ đừng để ai nhìn thấy chị gặp Thoại. Cũng nhớ nhìn trước nhìn sau truớc khi bước vào bìa rừng. Bây giờ bọn mình về trại cho chị và cháu nghỉ ngơi. Cố làm theo đúng kế hoạch. Bây giờ chị đưa ba lô hành lý đây tôi mang đi truớc. Quang và các bạn chào tạm biệt ra về. Kế hoạch được tiến hành như dự định. Quang báo cho Thoại biết trước và trở lại kịp giờ lao động, rồi đưa gia đình Giang đi vào lối mòn tắt trong rừng. Sau đó ra lộ đi kèm thêm một đoạn nữa rồi phải từ giã. Hai chị em tiếp tục con đường. Thằng Quốc dường như qua một ngày vất vả hôm trước, không còn bao nhiêu sức, Giang phải chia bớt túi đồ cho nó, trong khi vẫn phải trông chừng con. Đường đồi lên đèo xuống dốc thật khổ. Đi vài chục bước lại phải dừng lại thở. Mãi rồi cái quán bên đường cũng hiện ra. Mừng vui hiện lên khoé mắt, Giang dẫn em và con vào giải khát, nghỉ ngơi, chờ chồng. Bên trong có mấy người bộ đội ngồi uống nước trà hút thuốc đưa đẩy cười nói với cô gái bán quán trông còn rất trẻ. Thấy bọn Giang bước vào, họ ngưng nói, mắt hướng về nàng có ý nghi ngờ. Nhưng họ không nói gì. Giang ngồi vào cái bàn ngay cạnh cửa, giả bộ chăm sóc con ăn uống. Kỳ thực, đôi mắt cứ liếc nhìn ra đường trông ngóng. Thỉnh thoảng, một hai người tù cải tạo ăn mặc rách rưới, trông thật tang thương, trên tay ai cũng có một dao rựa lớn đi lướt qua nhưng không phải Thoại. Ngồi đã khá lâu, nàng cảm thấy bồn chồn. Đám bộ đội cũng đã bỏ đi. Đến lúc ấy, Thoại mới chợt hiện ra, cũng áo quần rách bươm, cũng con dao rựa trên tay. Anh liếc nhẹ vào quán rồi tỉnh bơ đi thẳng. Quốc thì thầm: “Ảnh tới rồi đó, chị thấy chưa?” - Thấy rồi! Đừng nói gì hết. Để anh đi một quãng xa đã, kẻo tụi nó nghi. Nhìn thân hình tiều tuỵ trong bộ đồ ăn xin của chồng, Giang thật mủi lòng. Những kỳ thăm nuôi chính thức trước dù sao cũng còn khá tươm tất. Lúc này đang giờ lao động, phải ăn mặc như người đi lao động không thì lộ chuyện. Thật là buồn. Vợ lên thăm chồng mà gặp nhau không dám gọi. Nàng muốn bật khóc mà không dám, chỉ đưa nhẹ khăn tay lên lau mắt như có hạt bụi vướng vào. Ôi! Có thời đại nào người hãi sợ người như cái thời đại này. Vợ chồng thân yêu đầu ấp tay gối, gặp nhau phải làm ngơ như người xa lạ. Chờ cho Thoại đi khuất, nàng mới trả tiền bước ra khỏi quán. Tính đi ngược lại với hướng của Thoại một đoạn rồi mới băng rừng trở ra như dự tính, nhưng sao chân lại cứ theo bước chân chàng. Thì, một liều ba bảy cũng liều, đến đâu hay đến đó. Thoại dường như cũng không kiềm chế nổi tình cảm, anh đã quay lại, đến gần vợ con, nắm lấy cái túi xách trên vai nàng kêu khẽ: - Em! Con! Giang thổn thức: “ Anh ơi!” rồi nước mắt tuôn rơi. Thoại vội lên tiếng an ủi: - Đừng khóc, tụi nó nghi ngờ là khổ cả lũ. Để anh xách túi đồ đi trước vào vườn sắn. Em cứ thế mà đi theo nhé! Rồi anh bỏ đi trước. Vườn sắn bỏ hoang, cỏ dại cao hơn đầu người mọc chằng chịt xen lẫn với cây sắn. Đang cố vạch đường tìm vào cái chòi giữa vườn, anh bỗng giật nẩy mình dừng lại. Loáng thoáng có tiếng người ở phía chòi. Hoá ra là mấy tay bộ đội đi săn. Bọn họ lần theo dõi dấu heo rừng về đào phá củ mì và tìm ra cái chòi. Thật là tiện cho họ, có chỗ để ẩn nấp rình mồi. Thật may, Thoại nghĩ, gia đình mình chưa vào tới, không thì đã lộ tẩy. Không thể dùng chòi được nữa. Anh quay lui lại bảo Giang đừng tiến vào sâu nữa. Đáng buồn, vợ con lên thăm mà không có một nơi chỗ yên ổn để mừng rỡ, thăm hỏi, nói gì đến san sẻ tình nghĩa yêu thương. Đưa nhau đi đâu bây giờ? Trở lại căng tin, mỗi cách ấy. Vừa đi vừa nói chuyện. Anh dặn nàng nếu bị tra hỏi cứ trả lời túi xách nặng quá nhờ anh mang hộ nên đãi anh ly nước, hai người không có quan hệ, Một tên bộ đội chạy đến trước mặt anh lên tiếng hạch sách rất hách dịch như muốn ra uy: - Anh kia là cải tạo phải không? Đang giờ lao động sao lang thang ở đây? Có phải móc nối với gia đình thăm nuôi lén lút chứ gì? Thoại tránh tiếng. Anh đưa con dao rựa ra trước mặt: - Tôi đang đi lao động trong rừng kiếm cây về làm cột. Gặp chị ấy con nhỏ lãi mang xách nặng nề nên giúp một tay, chứ không có liên hệ. Giang cũng đỡ lời: - Em lên sư đây cán bộ ơi! Sắp tới sư chưa? Cán bộ chỉ giùm. Đang mang xách nặng quá chưa biết làm sao thì có anh này giúp mang hộ. Tính lại quán mời ảnh cốc nước trả công ý mà! Anh chàng bộ đội được người đàn bà gọi là cán bộ, ra vẻ mát lòng đổi thái độ: - À cũng sắp tới rồi, đi vài quãng nữa thôi. Chị có cần tôi giúp một tay? - Thôi, gần tới rồi thì không dám làm phiền cán bộ. Hắn bỏ đi miệng lầm bầm: “cha nào trên sư tốt số thế! Cứ như múi mít ấy”. Thoại không nói gì, nhìn chăm chú vào ly nước trên tay. Chờ hắn đi xa, anh nói nhỏ: - Đi đâu cũng gặp kỳ đà cản mũi, chán thật. Trong quán này tai vách mạch rừng, nói chuyện nguy lắm. Thôi mình đi ra, vừa đi vừa nói chuyện được đâu hay đó. Thuốc men đồ dùng Quang đã đưa cho anh rồi. Gặp nhau lén lút thật bất tiện. Bố mẹ ra sao? Cả bố mẹ em nữa? Quốc lớn bộn ha?Làm ăn thế nào? Cho anh gửi lời thăm hỏi sức khoẻ mọi người. Nói ông bà cứ yên tâm, anh sẽ ráng giữ gìn sức khoẻ, ráng sống để về với em và con, với gia đình. Thôi, đưa em và con về. Có ở thêm cũng không gặp gỡ nói chuyện được. Theo anh biết, hàng ngày quán này có chuyến xe ra vào thị xã, không biết phía Minh Hưng hay Đức Hạnh. Em thử lại điều đình với chủ quán xem sao? - Đã lâu không gặp anh. Chưa nói với nhau gì hết đã bảo đi về? Anh đau ốm ra sao?Nói thật cho em biết để em liệu. Giang khóc, “Chả lẽ vừa gặp nhau đã từ biệt ngay?” - Đành chịu vậy! Hoàn cảnh này em biết. Anh thèm muốn được ôm em và con vào lòng một chút mà đâu dám. Tụi nó bắt gặp là cùm chân biệt giam, khổ vô cùng. Em hãy về. Chủ yếu mang thuốc men đến được tay anh để có hy vọng chống chỏi bệnh tật, mới có ngày về với em. Thôi chịu thua số phận đi, đợi dịp thăm nuôi chính thức mình gặp nhau lâu hơn. Nói bố mẹ đừng lo lắng thái quá. Anh nhất định sẽ trở về. Thoại đã nói thế, Giang còn biết nói sao. Nàng đứng dậy trả tiền, tiện thể hỏi thăm về chuyến xe hàng sắp tới để xin đi theo. Sáng mai mới có. Vậy lại phải cuốc bộ ra thị xã chiều nay. Giữa rừng, chỗ đâu mà trú.Mọi người kéo nhau ra khỏi quán. Đi bộ một quãng,nhìn chung quanh vắng lặng không có ai, Thoại choàng tay qua vai vợ hôn nhẹ lên mái tóc đượm mùi cháy nắng của nàng, ghì vội con vào lòng thì thầm với nó: Xuân con ơi! Ba nhớ thương mẹ và con thật nhiều. Con lên thăm mà ba không thể nói chuyện với con ba thật đau lòng. Thôi con về nhớ ngoan ngoãn cho mẹ vui nghe không? Nói với ông bà nội ngoại là ba nhớ ông bà lắm. Mi tạm biệt ba cái coi nào! Thằng bé còn đang ngẩn ngơ dãy dụa trên tay anh, người đàn ông đối với nó vẫn còn xa lạ, gầy gò, rách rưới, lôi thôi như người ăn xin nó thường thấy ngoài chợ. Ông lại còn ôm mẹ con nó vào lòng. Chưa kịp cất tiếng khóc, bỗng dưng xuất hiện lù lù hai người bộ đội, một người hai mẹ con mới gặp lúc sáng. Anh này quắc mắt lên: - A ha! Láo lếu thật. Lũ nguỵ dám qua mặt cách mạng. Vậy mà chúng nó bảo là không có quan hệ. Tội lừa dối nhân dân, lừa gạt nhà nước nặng lắm có biết không? Đúng là bản chất Mỹ Nguỵ khó mà gột rửa. Cần phải cho đi cải tạo mút chỉ mới sáng mắt. Cách mạng đã cách ly gia đình để tạo cơ hội yên tâm học tập, mà còn lén lút móc ngoặc với nhau. Này anh kia! Vi phạm nội qui của trại là mang tội có âm mưu chống đối cách mạng, không thành tâm hối cải… Hắn còn đang thuyết giảng, Thoại vội buông thằng bé xuống đất, quay qua nói nhanh với vợ, “Kiếm đường về đi”, rồi chụp vội con dao dưới chân nhãy phắt vào buị rậm trước mặt. Giang ôm lấy con, cùng đứa em trai đứng ngơ ngác, bơ vơ giữa con đường đất đỏ bụi mờ. Thoại có lủi kịp không? Về trại có sao không? Còn nàng, con nhỏ trên tay, về đâu đêm nay giữa núi rừng bao la với sương đêm lạnh buốt?

Phương Duy
Cuối năm 2002
( sửa chữa 05/2008)



Truyện linh cao


                               Linh Cao truyện


     Truyện kể dân gian, ở xứ Lạc, có giống sơn hầu tên gọi “linh cao”. Giống này hung dữ, xảo quyệt, nói ngôn ngữ lạ, biết tiếng người, thường sinh hoạt ẩn nấp trong các hang động âm u trên núi , thích hoạt động lén lút trong bóng tối, đặc biệt về đêm.
     Cái tên “linh cao” cũng có nhiều truyền thuyết. Có thuyết cho rằng vì chúng phát xuất từ một loài giả nhân (không phải dã nhân)  nhiễm phải những chướng khí độc hại ở trong các u cốc trên núi mà thành. Sau này sinh sản nhiều, tràn về đồng bằng, chúng vẫn có tính thích sinh hoạt ở cao độ. Có con thích sống trên nhà sàn. Có con lại ghét bất cứ sinh vật nào đứng cao hơn nó. Những con khác, khi ùa về thành, thường chiếm ngự những lâu đài biệt thự to lớn nhất. Lại có con cao ngạo đến mức đòi leo ngồi lên chỗ cao nhất, cả trên bàn thờ. Dù đã ở trên cao nhưng vẫn không quên hang động, ưa luồn lách chui rúc vào các hang hốc khe lỗ, bất kể lớn bé, nhỏ to.
     Thuyết khác lại bảo: đó là một loài cáo thành tinh. Cái tên “linh cao” do con người, vì hãi sợ chúng, đọc trại đi từ chữ “tinh cáo” mà thành. Sợ là phải vì chúng hung hiểm, độc ác. Chung quanh các hang động nơi chúng ở, các sinh vật, hoặc đã bị giết hại hoặc sợ hãi bỏ đi. Đói khát, lợi dụng việc nghe hiểu nói được tiếng người, ban đêm chúng mò mẫm kéo nhau về các làng xóm của loài người, che giấu bản mặt xấu xa, buông lời ve vãn, dụ khị đàn bà con nít và những người nhẹ dạ, rồi bắt cóc mà uống máu, ăn thịt.
      Có nhà chủng học lại cố minh chứng chúng chẳng qua là một giống đười ươi thời ăn lông ở lỗ còn sót lại. Giống này hình dạng to lớn như người, nhưng cái đầu nhỏ thó, mõm nhô ra, trán thấp tè. Chúng thường lấy vỏ dừa đội lên đầu để che cái trán thấp, thích giả làm hề, toàn những trò kinh thiên động địa, bàn tay vỗ vào ngực đôm đốp, miệng không ngớt kêu lên những tiếng: “tính cào, tính cào…(đỉnh cao, đỉnh cao…)” Loài người ở xa, tiếng vọng không rõ, nghe như hai tiếng “linh cao”.
     Nghe nói “linh cao” là loài không tim. Vì không  có tim nên chúng vô cảm, không biết yêu đương ,chỉ ưa chém giết. Khi cần giành mồi, chúng sẵn sàng sát hại ngay chính đồng loại của chúng. Vì không tim nên máu trong người chúng dồn cả lên đầu, khiến đôi mắt lúc nào cũng toé lửa, miệng thì luôn luôn khát máu. Bắt được con mồi, chúng thích xé nạn nhân ra thành nhiều mảnh để nhìn cảnh thịt rơi máu đổ rồi mới từ từ liếm láp. Tuy là loài ăn tạp, sắt thép rác rưởi gì chúng cũng ngốn tất, nhưng món ăn khoái khẩu của chúng  dĩ nhiên lại là quả tim. Chúng nghĩ rằng nhai được nhiều tim thì có ngày, cơ thể  chúng sẽ mọc được một trái tim.
     Bắt được mồi, vì sợ lửa hay không biết cách dùng, chúng thường nắm chặt tay chân nạn nhân đem phơi trước ánh mặt trời để hâm nóng bầu máu thịt con mồi hầu ngon miệng, mắt nhắm tít lại, miệng cười há ra cười, chờ khi trời tối thì xé xác mà ăn. Để đề phòng, con người bảo nhau, chặt những lóng tre lớn để sẵn, đi đâu thì đeo vào tay vào chân. Rủi có bị bắt thì chờ khi chúng nhắm mắt cười, từ từ rút tay chân ra khỏi ống tre mà chạy trốn. Có người bị chúng bắt, thoát được về kể chuyện:
      Có con linh cao, khi mặt trời lặn, mở mắt ra thấy mồi chỉ còn là mấy khúc tre cứng ngắc, không tim, không máu không thịt, hàm răng nhọn hoắt của nó   không  có gì để nhai nuốt được. Nó giận dữ đi tìm chung quanh không thấy, nhất quyết đổ lỗi cho mặt trời lấy mất. Nó nhớ lại, trước khi nhắm mắt cười, ngoài nó ra chi có mỗi mặt trời đang ở gần. Đúng thị là mặt trời đã ăn cắp con mồi của nó. Mặt trời chạy đi đâu? Nó nhìn về ánh mặt trời lặn. Thế là nó cứ nhắm hướng Tây mà đi tìm. Ban ngày, mặt trời ở cao quá, nó với không tới thì nó nghỉ. Ban đêm, mặt trời xuống thấp thì nó lần theo.
      Băng qua bao rừng núi sông biển, cứ hướng mặt trời lặn mà đi. Cho đến một ngày, đói khát và sắp kiệt sức, nó gặp một lão râu xồm, tóc tai vểnh ngược, to lớn bặm trợn hơn cả nó, xục xạo mò mẫm trong rừng sâu. Lão đang tìm nước đái của tắc kè để pha chế thuốc. Lão từng là lái buôn. Lão buôn thuốc đỏ, thuốc lừa. Thiên hạ còn khôn lỏi nên lão bịp chưa được mấy người. Lão bèn dở tài mọn ra lập môn phái. Người theo học lèo tèo, rơi rụng như lá mùa thu.
     Nhìn thấy một sinh vật đói lả, người không ra người, ngợm không ra ngợm, cứ theo dấu mặt trời lặn mà bước, lão lên gịong quát:
     - Tên kia! Mi là giống gì? Người hay vật? Đi đâu mà vất vưởng như một con chó đói thế?
     - “Linh cao, linh cao”.- Nó vỗ ngực la. -  Cao hơn giống người một cái đầu. Ta đang đi tìm mặt trời để đòi lại con mồi nó cướp mất của ta. Thế lão có biết tên mặt trời trốn ở đâu không? Lão râu xồm cười:
     - Mi ăn nói gì mà cao… ngạo thế? Vậy cũng xưng là loài cao hơn giống người. Nói thật cho biết, mi có đi hết đời cũng chẳng bao giờ đuổi kịp được mặt trời.
     Lão nhíu mày tính toán, loài người khôn ngoan khó bịp, cái giống dở dở ương ương này không chừng nhờ cậy được cho toan tính của mình. Nghĩ thế, lão bèn cho nó ăn và có ý thu làm đồ đệ.
     Lão râu xồm nguyên là một tay phù thuỷ hết thời, bùa phép của lão để mưu đồ lợi ích cá nhân. Hại đời hại người nhưng cứ nhơn nhơn tự xưng là cứu nhân độ thế, bởi thế thiên hạ ghê sợ tránh xa. Lão lấy máu dê, máu chó, máu heo trộn lẫn với mồng gà, hạt lựu, nước đái tắc kè, nước dãi kỳ nhông và nhiều thứ khác tạo nên một dung dịch sền sệt màu đỏ lão gọi là thần dược “chuyên chế nhiệm mầu, hiệu quả vạn năng”. Lão quả quyết đem thứ thuốc này pha vào thì thức ăn sẽ thành đồ cao lương mỹ vị, thức uống thành bồ đào mỹ tửu, nhuộm vào quần aó vải vóc mặc vào thì sang trọng như ông hoàng bà chúa, tưới lên vật liệu đồ dùng thì lều cỏ sẽ biến thành lâu đài hoành tráng lộng lẫy với những vật dụng vô giá không vàng bạc châu báu nào có thể so sánh kịp. Lạ lùng nhất là khi lão rêu rao đem thuốc của lão mà rải vào đất thì mặt đất sẽ mọc ra của cải, đồ ăn, ước gì có nấy, thật là sung sướng, không phải làm lụng khó nhọc chi cả.
     Người nghe không mấy ai tin. Thế nhưng cũng có người nhẹ dạ nghe lời lão, mang về pha chế vào đồ ăn. Một mùi khó chịu xông lên làm choáng váng mặt mày đến nôn oẹ, cho chó chó chê, cho mèo mèo mửa. Có con đói quá ráng nín thở liếm láp thì chưa kịp nuốt vào đã sùi bọt mép, rên ư ử, máu rịn ra khắp nơi từ mắt mũi miệng đến tay chân rất thảm hại. Người đến phàn nàn, lão lý sự:
     - Thuốc của ta là một thần dược tinh khiết chỉ dùng cho người và các linh vật. Ngươi cho lũ súc vật  ăn, chúng chê là phải.
     Kẻ khác tiếc của giời, ráng thử một vài miếng vào bụng, nuốt trợn lòi con mắt, miệng chỉ chực nôn, tay chân lẩy bẩy.. Mang đến lão bắt đền, lão cười giả lả:
     - Thuốc đắng giã tật. Đây là loại linh dược, phải đắng cay, khó ngửi mới hiệu nghiệm, có đâu như những thứ thuốc tầm thường giả hiệu khác. Muốn có công hiệu cũng phải cần có thời gian. Các ngươi không thấy cái nhãn của thuốc là “chuyên chế nhạt mầu, hệ quả vạn năm” à! Lão biến đổi từ câu “chuyên chế nhiệm mầu, hiệu quả vạn năng” của lão. Thần dược chính hiệu của ta khi dùng bước đầu ngấm vào cơ thể thì có phản ứng nhạt mầu. Mất mầu thì có hơi nặng mùi một chút. Phải cố chịu đựng thì vạn năm sau sẽ có hiệu quả. Dục tốc bất đạt. Nhãn đã ghi rõ ràng như thế.
     Lời giải thích của lão râu xồm thật lạ. Nó lươn lẹo và khúc khuỷu làm sao ấy. Lại thêm cái lối nhìn của lão xỉa xói cay độc, sắc cạnh như dao cắt vào da thịt. Không ai dám hỏi tiếp. Từ đó người ta gọi lão là lão lừa hay lão “Cắt Mắt”.
     Nổi tiếng lừa, hàng của lão Cắt Mắt khó đem gạ gẫm, lão buồn tình chui vào hang núi diện bích mười năm, nghiền ngẫm nghĩ ra một mớ độc chiêu đi bình thiên hạ. Lão lại muốn truyền bá những chiêu thức độc đáo của mình mong chiếm lấy quyền lực. Đệ tử có được mấy người, lão tính mở rộng môn phái để gây thanh thế. Đang vùi đầu suy tính thì vừa lúc gặp con linh cao. Buồn ngủ gặp chiếu manh. Đúng là loại đệ tử hợp ý lão đang cần. Lão thấy có thể dùng con “người ngợm” này cho ý đồ của lão.
     Nhìn ngắm nó một hồi, lão bảo:
     - Thôi được, ta nhận ngươi làm đệ tử. Từ giờ nhà ngươi khỏi cất công đi tìm mồi. Làm học trò của ta ,ngươi sẽ biến thành chuá tể một cõi. Các con mồi sẽ hoàn toàn khuất phục, tự động dẫn xác vào miệng của ngươi.
     Con linh cao nghe nói thì thích chí, lại nhắm mắt mà cười, mồm hét vang mấy tiếng: “linh cao, linh cao”.
     Lão Cắt Mắt tới gần lôi cái vỏ dừa nó đang đội trên đầu quăng xuống đất. Lão nói:
     - Bỏ cái thứ kệch cỡm này đi. Trông ngươi giống như một con khỉ làm hề. Ta sẽ cho ngươi một cái khác tốt hơn mà đội.
     Đoạn lão đi tìm cho nó một cái mũ cánh sao nhọn hoắt, tẩm thêm độc dược vào, đội lên đầu nó. Lão giải thích:
     - Đây là mũ “đại đồng”, được chế tạo từ loại đồng cổ tốt nhất,tên lửa cũng không xuyên thủng. Có mũ này trên đầu, ngươi sẽ có sức mạnh, có uy thế. Cánh sao là biểu tượng của uy lực trên cao và là thần hộ mạng của ngươi. Vì ngươi sinh ra từ loại sơn lam chướng khí hỗn hợp thuộc âm, kỵ ánh sáng, thích hoạt động mờ ám, chui rúc về đêm, ánh sao sẽ dẫn lối đưa đường và bảo vệ ngươi. Nhớ phải luôn giữ cái mũ trên đầu. Không có nó, không những mất uy quyền mà sinh mạng của ngươi sẽ lâm nguy.
     Để cho chắc ăn, lão dùng một vòng thép niền chặt cái mũ lên đầu con linh cao, gọi là vòng “kiên quyết”. Nhìn lại khuôn mặt nó, lão lại bảo:
     - Ngươi có cốt hầu, rất hợp cho việc bắt chước, học vẹt những ngôn từ xảo thuật. Nhưng cái bản mặt quá gớm ghiếc, ban đêm đàn bà thấy thì khiếp sợ, con trẻ thì khóc thét. Nhất là đôi tai lừa lộ ra thế kia thì lừa bịp ai được. Để ta làm cho ngươi một cái mặt nạ.
     Lão dùng thứ thuốc riêng chế tạo thành một cái mặt nạ muôn mặt, khi mang vào, chỉ cần đưa tay vuốt qua, khuôn măt biến đổi ngay. Khi thì anh trí thức, lúc thì bác nông dân. Mới là cô gái trẻ xinh xắn, bỗng thành ông già râu thậm thượt. Nói chung đủ mọi gương mặt từ thiên thần đến ác quỷ.
     Rồi lão moi ra một khúc vải đã nhuộm thuốc để làm áo choàng. Gọi đó là “lãnh hồng bào”, lão bảo đó là áo của các vị vua chúa. Màu đỏ là màu của sức mạnh, màu của huyết chiến, đó cũng là màu của máu, màu của kiên quyết bảo vệ vị trí cai trị độc tôn. Màu này hợp với giống linh cao là loài thích máu. Lão lại trang bị cho nó một đôi ủng “lập trường” làm bằng da “giai cấp”, lót đế “chuyên chính” Với đôi ủng dưới chân, nó có thể giẫm nát mọi chướng ngại chống đối trên đường.
     Con linh cao rất là sung sướng, nhưng nó cũng hỏi lại:
     - Trên cả tuyệt vời, nhưng sao lão có đầy đủ mà chưa chiếm được thiên hạ?
     Lão Cắt Mắt thở dài đánh sượt mà nói:
     - Mưu sự ở ta, thành sự tại… hên xui. Ta có một bí kíp gọi là “Vô Luân Bí Kíp” rất bí truyền. Bí kíp này do công phu ta thu thập nghiền ngẫm mười năm trong hang núi, do đó mang nhiều âm khí. Thần dược đỏ hợp cùng bí kíp, giống người như ta thuộc dương khí, luyện tập trăm năm cũng chỉ đạt tới bốn thành công lực. Nhà ngươi có được ưu thế của loài linh cao, thuộc âm, rất hợp bí kíp, tức có thêm được mấy thành công lực nữa, may ra có thể luyện tới mức thượng thừa. Bí kíp của ta gồm các độc chiêu: vô sản, vô gia, vô thần, vô tổ. Khi đem sử dụng, cái nhân tính còn sót lại trong ta thường hoá giải nó thành vô chiêu, dễ bị phản ứng ngược đến trở thành tàn phế. Do đó ta chưa dám sử dụng.
     Ngươi là giống có   cốt cách loài hầu,lại vô tâm, vô trí, vô cảm vô tình. Bí kíp này rất tàn độc, cần vô tâm để chỉ biết hận thù, vô trí để không còn suy xét, vô cảm để thẳng tay khi chém giết và vô tình để sẵn sàng ăn thịt hút máu cả đồng  chủng đồng loại. Ngươi có căn cơ, luyện tập bí kíp của ta chắc chắn sẽ thành vô địch. Như thế, ước muốn làm chủ thế giới của ta hy vọng thành sự thật.
      Nói xong, lão cười ha hả. Từ đó lão đóng cửa hang, dốc tâm truyền nghề cho tên đệ tử linh cao.
     Thời gian thấm thoát mấy thu qua, con linh cao đã học hết moị ngón nghề, khẩu quyết của sư phụ. Một hôm, lão Cắt Mắt bảo:
     - Nay ta đã truyền thụ hết công phu của ta. Ngươi đã có được mười thành công lực. Đã đến lúc ngươi hạ san đi chinh phục thiên hạ, làm rạng danh môn phái, trả thù cho ta đã từng bị lũ người ngu ngốc lăng nhục khinh mạn.
     - Tuân lệnh sư phụ, con linh cao nói, nhưng đệ tử chưa biết phải đi đâu, làm gì, nên bắt đầu từ chỗ nào? Xin sư phụ chỉ bảo.
     Lão Cắt Mắt nghiêm khắc trả lời:
     - Không được vi phạm môn quy. Trên nguyên tắc, luật lệ của phái Vô Luân tập trung ở chữ Vô. Vì thế không có thầy trò, cha mẹ con cái, anh em vợ chồng gì ráo trọi. Từ giờ ngươi phải biết lãnh hội: Tất cả đều cá đối bằng đầu, như nhau, bằng nhau. Tất cả xưng hô với nhau bằng hai chữ “đồng chóe”. Ngươi nên gọi ta là đồng chóe lão sư.
     Lão râu xồm lại suy nghĩ một hồi, đoạn lão vỗ bồm bộp vào đầu gật gù:
     - Ta nhớ rồi. Năm xưa có một gã đểu đến đây xin thọ giáo. Thành tựu xong, gã trở lại giang hồ hành hiệp. Nghe nói gã đã thành công, thành công, đại thành công, trở nên bang chủ một bang phái rất lớn. Ngươi nên tìm đến gã học hỏi thêm cách ứng xử. Xuất hành từ đây, cứ theo hướng Bắc, hỏi thăm một gã nhỏ bé, thâm hiểm, tên gọi Le Nanh, biệt danh gã sói. Gã nguyên là một con sói già lông tóc rụng hết, tu luyện lâu năm trên những đỉnh núi băng tuyết, mà biến thành người. Cứ đến gặp hắn bảo ngươi là đệ tử của ta, gã sẽ giúp đỡ.
     Linh Cao từ giã lão râu xồm rồi nhắm hướng Bắc mà đi. Chẳng bao lâu tới một vùng đất mênh mông, tuyết phủ ngập đồng. Nó thấy một gã nhỏ thó, đầu bóng như gương, mặc áo đỏ hệt như nó, một tay cầm chuỳ, một tay lòi tói đang sai khiến một lũ thủ hạ cũng áo đỏ quần hồng hò hét điều khiển một đám đông mặc đồng phục màu xám, chân đất đeo xiềng, cổ quấn khăn đỏ có đeo nhiều vòng sắt. Họ đang làm việc trên cánh đồng trắng xoá. Nhìn kỹ, nó thấy họ đang gieo vãi một loại hạt pha trộn thuốc thần mầu đỏ của lão Cắt Mắt. Gieo vãi tới đâu, ruồi nhặng bu quanh tới đó.
     Đặc biệt, đám người này chỉ làm việc một tay, còn tay kia phải nắm lấy người bên cạnh và bước những bước thật đều và thẳng hàng, theo đúng hàng ngũ. Gã nhỏ thó ngồi trên một đài cao giám sát. Hễ có người nào mỏi tay, không gieo hạt, buông tay nắm hoặc đi trật hàng ngũ, gã liền nhảy xuống một tay giáng cho những truỳ nặng nề, tay kia vung sợi xích sắt quất tới tấp. Dù đau đớn đến gập người lại, đám người vẫn cứ luôn miệng phải vừa mỉm cười vừa tung hô Bang chúa vĩ đại, rộng lượng hải hà. Linh cao ngước nhìn thì nhận ra đúng là gã sói. Nó mở miệng:
     - Kính chào đại nhân, ngài có phải là Le  Nanh đại vương không?
     Gã sói nhìn lên, thấy một tên mặc áo choàng đỏ, đội mũ cánh sao, biết ngay tên này từ đâu tới. Gã hỏi:
     - Mi hẳn là truyền nhân của lão râu xồm? Vậy là đồng chóe với ta. Lão bảo mi đến gặp ta phải không? Cần gì nói ta nghe?
     Gã vẫy tay bảo thuộc hạ cho đám đông nghỉ ngơi. Bọn thuộc hạ mang thực phẩm ra chia. Linh cao nhìn kỹ thấy đó là một thứ hột tròn nhỏ đã trộn thuốc, gã sói gọi đó là cao lương đỏ. Già trẻ trai gái, lớn nhỏ gì đều được phát một khẩu phần như nhau. Bọn thuộc hạ đi thúc đẩy từng người, không muốn ăn cũng phải nuốt, vừa nhóp nhép nhai vừa dập đầu đội ơn bang chúa đã cho của ăn. Linh cao bảo muốn gặp gã để học thêm kinh nghiệm theo lời lão xồm. Gã sói bảo:
     - Ta đang thành lập một vương quốc mới với nền tảng môn phái Vô Luân, gọi là vương quốc “Vô Xiết”. Tất cả mọi người, mọi vật trong vương quốc được tập trung xiết lại một khối, ăn mặc cùng một thứ, ở cùng một nơi, làm cùng một việc, cùng nói cười như nhau, ăn ngủ cùng kiểu, đến mơ ước cũng giống nhau.
     Gã chỉ tay về đám đông:
     - Như ngươi đã thấy, mọi người ăn uống làm việc, vui chơi rất đồng loạt, lúc nào cũng hồ hởi phấn khởi.
     Gã nhăn mặt cười, giơ cao 2 thứ trong tay và nói:
     - Thành công là nhờ có thêm hai thứ này. Sở dĩ Lão “thầy” có linh dược và bí kíp mà không thành công vì không biết dùng chúng. Ngươi muốn đại thành công như ta cũng phải trang bị vũ khí cầm tay.
     Gã dẫn con linh cao đi một vòng. Gặp một người thợ đang rèn tay sắt, gã tiện tay cầm lên đưa cho nó và bảo:
     -Cái này hợp với tay ngươi. Cứ việc cầm khỏ lên đầu thiên hạ là chúng tuân lệnh răm rắp.
     Đi một đỗi nữa thấy mấy người đi gặt đang ngồi nghỉ, lưỡi hái ”sích cồ” để bừa bãi dưới đất, gã lại lượm lấy một cái đưa cho linh cao:
     - Cái này để khi có đứa nào lên tiếng oán than rên rỉ thì cứ việc cắt cổ chúng nó. Như vậy mọi việc êm xuôi. Để ta bảo một đệ tử của ta chỉ cho cách sử dụng.
     Gã lên tiếng gọi lớn:
     - Sát Thủ Lĩnh đâu? Đến đây có việc.
     Nghe gọi, một tên ria mép rậm rì, to lớn bặm trợn, mặt lạnh tanh, bước đến cúi chào tung hô bang chủ. Gã sói giao nhiệm vụ cho Sát Thủ Lĩnh huấn luyện cho linh cao sử dụng nhuần nhuyễn hai vũ khí lợi hại trên Đây là một tên cùng hung cực ác, tâm địa nham hiểm. Hắn theo lệnh gã sói lập ra những trại tập thể, lùa hết mọi thứ cả người và vật vào ở chung, đúng tiêu đề của phái Vô Luân và luật lệ của xứ Vô Xiết. Mục đích để tiện bề kiểm soát và khống chế. Nhưng với bản chất đảo điên, hắn luôn huyênh hoang đó là nơi bình đẳng nhất, thiên đường nơi trần thế, niềm kiêu hãnh của nhân loại...
      Gã Sát Thủ đưa linh cao đến một khu rừng vắng, chỉ bảo cho nó cách sử dụng hai loại vũ khí thật thuần thục. Đoạn gã nghiêm giọng lên tiếng:
     - Phàm đã đi vào giới Vô Luân tất phải có ý đồ. Mi đã có tham vọng thì làu thông kỳ công bí tích, xử dụng binh khí thuần thục đến đâu cũng mới chỉ có một nửa. Nửa còn lại là phải có quyết tâm. Muốn quyết tâm đạt tới kết quả tuyệt đích bắt buộc phải có bàn tay sắt. Đây là chìa khoá của thành công. Bạo lực không những chỉ qua hành động mà bạo lực phải thể hiện ngay trong ý niệm. Đó là vừa tàn độc vừa thủ đoạn. Phải bọc nhung cho bàn tay sắt. Khi đang giành giựt quyền lực, đối với kẻ thù, bất luận bí mật hay công khai, phải đuổi tận giết tuyệt, thủ tiêu tàn sát, nhổ cỏ tận gốc. Nếu không có cơ hội tiêu diệt thì phải tìm cớ hãm hại, không cho ngóc đầu lên được.
      Đối với bá tánh thì lại dùng bộ mặt giả nhân giả nghĩa, ngôn từ xảo ngôn sáo ngữ để che mắt lũ ngu này, bắt chúng nó sung sướng tự nguyện dấn thân phục vụ, sẵn sàng hy sinh mọi thứ, kể cả hạnh phúc và tính mạng của chúng để bảo vệ cho danh tính và uy quyền của mi. Mi sẽ được ca tụng tôn vinh là thần tượng, nhân vật vĩ đại, lãnh tụ, cha già, thậm chí thánh nhân.
      Khi đã nắm toàn bộ quyền lực trong tay, bạo lực sẽ giúp mi giữ vững vị trí. Lúc này, mi lại dùng các bài bản “trên đe dưới búa” làm cho chúng nó ngày đêm sợ hãi, “xiết chặt hầu bao” để nắm lấy dạ dầy của chúng, bắt chúng luôn luôn đói khát để chúng mờ mắt vì ăn, không còn sức lực phản kháng và biết ơn tán tụng khi ngươi bố thí cho một ít cầm hơi.
     Ta cũng dạy cho mi ba chiêu mới thêm vào các chiêu thức Vô Luân mà mi đã học, rất tiện dụng trong việc cai quản đàn áp đám dân ngu. Ba chiêu đó là các “bịt”chiêu, cũng bắt đầu bằng chữ vô: vô mục,vô thính, vô ngôn. Với ba chiêu này, mi có thể bịt mắt, bịt tai, bịt mịệng đám thần dân, làm cho chúng trở thành một lũ ngu ngơ, chỉ còn biết tuân theo sự sai bảo của mi. Lúc đó, mi muốn ăn tươi nuốt sống gì mà chả được…?
     Lại nói về xứ Lạc, đất không rộng, người không đông, nhưng phong cảnh hữu tình, thiên nhiên ưu đãi, núi liền núi, sông nối sông, rừng trải bạt ngàn, suối chảy róc rách, trời trên cao rộng mở, đồng dưới đất phì nhiêu, chim muông vui hót líu lo, người người an cư lạc nghiệp. Khổ một nỗi, đất ấy nắm ngay sát một bờ hồ mênh mông nơi qua lại của nhiều nhóm giang hồ thảo khấu.
      Ngày kia, có lũ bạch khấu từ phương xa đến dòm ngó, thấy xứ sở thơ mộng, giàu đẹp thì động lòng tham. Ỷ có sức mạnh, có chiến thuyền to, có thần sấm sét, có những cây gậy khạc lửa có thể giết người từ xa trong chớp mắt, bọn thảo khấu chiếm xứ Lạc, cướp đoạt tài sản, thu tóm ruộng đất,hãm hiếp đàn bà, bắt thường dân làm nô lệ, phu dịch. Dân tình lầm than, nhiều nơi nổi lên chống cự, nhưng sức yếu thường thảm bại dưới uy lực của lũ cướp.
      Một hôm có một tay giang hồ áo đỏ, mặt hoa da phấn, cốt cách phong trần xuất hiện. Gã tự xưng người đất Lạc, bỏ xứ đi lưu lạc nhiều năm, tầm sư học đạo, nay đã thành danh, trở về xứ giúp đời , giúp người.
      Không một ai trong đám dân xứ Lạc biêt tông tích gã, nhưng miệng lưỡi của gã trơn như bôi mỡ, nên mọi người nhắm mắt nghe theo. Gã trở thành thủ lãnh, cầm quân đánh đuổi bọn bạch khấu ra khỏi xứ. Gã khăng khăng toàn dân xứ Lạc phải dùng thứ thần dược màu đỏ của lão râu xồm sáng chế mới có sức mạnh mà đuổi giặc. Khi đã cho mọi người ăn mặc theo ý, gã sung sướng dẫn họ đến một khu rừng tre, chặt cho mỗi người một khúc làm võ khí tấn công bọn bạch khấu. Lũ cướp dù có thuyền to, gậy thần mà vi thế cô quân ít nên cuối cùng phải rút chạy. Dân xứ Lạc cũng phải trả giá cho chiến thắng này bằng những lớp người thay nhau chết như rạ. Gã áo đỏ chỉ đứng phía sau gào thét đốc thúc tiến quân, giả vờ khóc lóc ca tụng những đống xác chất cao trong núi, nhưng trong lòng rất hoan hỉ khi nghĩ tới bữa tiệc máu của gã trong đêm khuya khi đám  người đã đi ngủ vắng.
     Sau trận chiến với lũ thảo khấu, gã giang hồ không đợi ai tôn vinh mà tự xưng là lãnh tụ muôn năm, lập triều đại đỏ, lên ngôi hồng chúa. Gã truyền lệnh lấy Vô Luân bí kíp của lão Cắt Mắt râu xồm làm luật lệ cai trị, lấy bàn tay sắt và lưỡi “sích cồ” của gã sói làm hiệu lệnh, bạo lực làm nền tảng và khẩu quyết ba “bịt” của tên Sát Thủ Lệnh làm công cụ đàn áp.
      Gã thấy đến lúc không cần đến cái mặt nạ muôn mặt khốn khiếp tuy rất tiện dụng cho sự lừa lọc nhưng cũng rất khó chịu, mang nó vào không làm gã thoải mái tí nào. Cái mặt na rớt xuống, dân xứ Lạc cùng thảng thốt kêu lên:
     - Ồi trờì đất! Loài linh cao khát máu đây mà! Vua chúng ta đây sao?
     Tỉnh mộng, biết bị lừa bịp thì đã quá muộn. Linh cao đã hoàn toàn thống trị trên cả xứ. Từ đó,linh cao đưa lũ trên rừng về  cai trị, dân tình xứ Lạc sống trong cực kỳ đau thương, lo sợ, thống khổ. Tất cả mọi người, mọi vật đều trở thành nô lệ, là món hàng để phục dịch cho loài linh cao, lúc này tha hồ tung hoành theo bản chất của chúng, tàn tệ gấp trăm lần lũ bạch khấu. Trên hết mọi thứ, đêm đêm, máu người dân cứ đổ để thoả mãn cơn thèm khát từ lâu của chúng, và cùng với máu dê, máu chó, máu lợn, chúng tiếp tục bào chế thêm loại linh dược đỏ nhiều hơn, mạnh hơn và độc hại hơn.
                                                                                                 
                                                                                  25 August 2007
                                                                                    Phương Duy